vanban.org

Bản án 06/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình: Xử cho ông Dương Đệ M và bà Lê Thị H được ly hôn nhau.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Dương Đệ M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Đệ M- H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình: Xử cho ông Dương Đệ M và bà Lê Thị H được ly hôn nhau.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỆ THỦY
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 06/2021/HNGĐ- ST
Ngày: 12- 5- 2021

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Toàn và ông Lê Thuận Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diệu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Hôm nay, ngày 12 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 08/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2021 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 09/4/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2021/QĐST- HNGĐ ngày 26/4/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Dương Đệ M, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị H, địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 12/01/2021, bản tự khai ngày 02/02/2021 và cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Dương Đệ M đều trình bày: Ông và bà Lê Thị H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình vào ngày 22/02/2018. Năm 1987 ông M và H kết hôn chung sống với nhau được khoảng 19 năm thì phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2017 thì ông M và bà H ly hôn. Sau khi các con động viên để vợ chồng quay lại thì ông M và H đã kết hôn lại, nhưng sau khi kết hôn thì ông M và bà H không sống chung với nhau, mặc dù ông M cũng đã nhiều lần đề nghị bà H về ở cùng, nhưng bà H nhất mực không về sống chung với ông M, ông M sống chung với mẹ của ông M, còn bà H làm nhà ra ở riêng từ khi kết hôn cho đến nay, không ai quan tâm đến ai cả. Hiện tại, ông M xét thấy tình cảm giữa ông và bà H không còn nên ông yêu cầu được ly hôn bà H.

Bị đơn bà Lê Thị H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai cũng như các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được tống đạt hợp lệ.

Về con chung: Ông M trình bày ông và bà H có 03 con chung là Dương Thị Thanh T, sinh năm 1988; Dương Xuân M, sinh năm 1991 và Dương Xuân M, sinh năm 1994. Hiện tại các con đã trưởng thành nên ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, nên ông Me không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả hỏi và tranh luận tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn bà Lê Thị H đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Dương Đệ M và bà Lê Thị H lấy nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình vào ngày 22/02/2018 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn ông M, bà H không sống chung với nhau, mặc dù ông M cũng đã nhiều lần đề nghị bà H về ở cùng, nhưng bà H nhất mực không về sống chung với ông M. Từ khi kết hôn vào năm 2018 cho đến nay, hai ông bà không sống chung với nhau và không ai quan tâm đến ai cả. Bà H đã được Tòa án thông báo các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, cũng có lần bà H đến Tòa án trình bày nhưng bà chỉ trình bày bằng miệng chứ không trình bày bằng văn bản và không tham gia phiên hòa giải, kể cả phiên tòa lần thứ hai cũng được tống đạt hợp lệ nhưng bà H vẫn vắng mặt không có lý do. Ngày 23/4/2021 bà Lê Thị H có văn bản trình bày: Bà cho rằng việc ly hôn là phải có ý kiến của con cái, hiện tại con bà đang đi làm ăn xa nên đề nghị Tòa án xem xét. Ngoài ra bà H trình bày vợ chồng có một số tài sản chung nhưng không trình bày rõ là tài sản gì, và không có ý kiến yêu cầu giải quyết cụ thể nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét. Sau khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt cho bà H, bà đã nhận mà bà vẫn vắng mặt, qua đó chứng tỏ bà H cố tình không chấp hành các thông báo, giấy triệu tập của Tòa án, không quan tâm bảo vệ hạnh phúc gia đình và không tha thiết hàn gắn tình cảm với ông M nữa. Ông M thì xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết và yêu cầu xin được ly hôn bà H.

Xét thấy, tình cảm vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho hai bên ly hôn nhau là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung: Ông M và bà Hcó 03 con chung là Dương Thị Thanh T, sinh năm 1988; Dương Xuân M, sinh năm 1991 và Dương Xuân M, sinh năm 1994. Hiện tại các con đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: Không có, ông M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí: Ông M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình: Xử cho ông Dương Đệ M và bà Lê Thị H được ly hôn nhau.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Dương Đệ M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) ông đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án huyện Lệ Thủy theo biên lai số 0001167 ngày 14/01/2021. Ông M đã nộp đủ án phí.

Ông M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/5/2021, bà H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ