vanban.org

Bản án 06/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 08/01/2021

HUYỆN AN PHÚ Độc lập –Tự do – Hạnh phúc V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân Bà Nguyễn Thị Tuyết Ái - Thư ký phiên toà: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Triết - Kiểm sát viên. Trong ngày 08 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú. Tòa án nhân dân huyện An Phú mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 381/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số:646/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm: 1987; - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1984; Cùng cư trú: Khu dân cư ấp Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, An Giang. (Bà Tuyền có mặt; ông Tuấn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền nộp đơn xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Tuấn với nội dung như sau: Hôn nhân giữa ông bà được hình thành là do tự tìm hiểu nhau trước rồi được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức đám cưới vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Cuộc sống chung thời gian đầu tương đối hạnh phúc và phát sinh mâu thuẫn

cách đây hai năm. Nguyên nhân là do hai người bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau trong cách chi tiêu trong gia đình, vợ chồng thường gây cãi làm mất hạnh phúc gia đình nên bà bỏ về nhà cha mẹ ruột sống đên nay. Hai người ly thân nhau từ đó. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông Tuấn. Trong quá trình chung sống hai người có hai con chung Nguyễn Huỳnh Tuấn Kha, sinh ngày 18/3/12007; Nguyễn Huỳnh Tuấn Khang, sinh ngày 21/4/2017; hiện hai cháu đang sống với bà Tuyền khi ly hôn bà yêu cầu nuôi hai con chung, không yêu cầu ông Tuấn cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản chung; nợ chung: Không có. Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác. Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông Tuấn theo quy định nhưng ông vẫn không có mặt theo văn bản triệu tập của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của bà Tuyền và ông Tuấn để giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tại phiên tòa, bà Tuyền bảo lưu ý kiến của mình. Riêng ông Tuấn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông theo thủ tục chung. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng…là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bà Tuyền và ông Tuấn có mâu thuẫn vơ chồng, thời gian ly thân nhau cũng đã hai năm và không thể hàn gắn được, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[ 1] Về thủ tục tố tụng: Hôn nhân giữa bà Tuyền và ông Tuấn là tự tìm hiểu yêu thương nhau trước, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp; các đương sự đều cư trú trên địa bàn huyện An Phú, nên yêu cầu xin ly hôn của bà Tuyền được tòa án thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa hai người hình thành là do tự tìm hiểu nhau, được cha mẹ hai bên đứng ra tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn. Thời gian đâu chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau phát sinh mâu thuẫn và ly thân nhau hai năm nay. Nay bà Tuyền xin ly hôn do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chứng cứ mà Tòa án thu thập được: Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân và nơi cư trú của ông Nguyễn Văn Tuấn ngày 18/11/2020 được ông Lê Minh Mẫn – Phó ấp Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang cho biết hiện nay ông Tuấn vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại ấp Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Về tình trạng hôn nhân thì không rõ và được biết hiện nay ông Tuấn đã đi làm ăn ở Phú Quốc, lâu lâu mới về địa phương một lần. Xét nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn ngay từ ban đầu là bất đồng nhau trong cách sống, lẽ ra hai bên tự tìm cách hóa giải để tạo điều kiện cho cuộc sống hạnh phúc. Hiện tại bà Tuyền xác định là không còn tình cảm với ông Tuấn nửa và mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng không có tiếng nói chung không thể tiếp tục chung sống với ông Tuấn. Ngược lại cả hai cùng bỏ mặc nhau, không quan tâm, địa phương biết, gia đình biết cả hai không còn yêu thương nhau. Trong thời gian ly thân cà hai đều không quan tâm nhau để hàn gắn, căn cứ khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân gia đình, thì ông bà đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 luật hôn nhân và gia đình 2014 “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”, do đó Tòa án nhận thấy cả hai vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Tòa án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ. [3] Về quan hệ con chung: Bà Tuyền khai có hai con chung và hiện đang được bà nuôi dạy. Khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục được nuôi hai con chung và không yêu cầu ông Tuấn cấp dưỡng. Hai cháu hiện đang được bà Tuyền nuôi dạy tốt và từ nhỏ hai cháu đã sống chung với bà Tuyền, tình cảm mẹ con đã thật sự gắn bó. Hội đồng xét xử nghĩ nên giao hai cháu cho bà Tuyền nuôi là hoàn toàn phụ hợp pháp luật. Theo quy định của pháp luật, bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bên nuôi. Tại phiên tòa hôm nay bà Tuyền không yêu cầu. Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện này. Tại phiên tòa, ông Tuấn vắng mặt nên Hội đồng xét xử cũng giải thích trong bản án cho các bên biết: Bà Tuyền cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Tuấn trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Tuyền khai không có không yêu cầu giải quyết. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Tuyền khai không có, tuy nhiên do ông Tuấn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này ông Tuấn có chứng cứ khác về tài sản chung, nợ chung và có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết thành vụ kiện khác. [5] Về án phí: Do yêu cầu của bà Tuyền được chấp nhận nên bà phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông Tuấn không phải chịu án phí sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ nghị quyết 326 Ủy ban thường vụ Quốc Hội Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền được ly hôn với ông Nguyễn Văn Tuấn. Giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 31/8/2005 của Ủy ban nhân dân thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao hai cháu: Nguyễn Huỳnh Tuấn Kha, sinh ngày 18/3/12007; Nguyễn Huỳnh Tuấn Khang, sinh ngày 21/4/2017 cho bà Tuyền nuôi. Bà Tuyền cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Tuấn trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. Về án phí: Bà Tuyền phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004848 ngày 12/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (bà Tuyền đã nộp đủ). Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/01/2021) Các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ