- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng S - Huỳnh S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2021/DS-ST Ngày: 24-02-2021 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoành.
2. Ông Nguyễn Thành Dân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Dương Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2020/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần (TMCP) S.
Địa chỉ: Số X đường Y, Quận Z, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức D – Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1975 – Giám Đốc Ngân hàng TMCP S - chi nhánh Sóc T.
Địa chỉ: Số M Trần Hưng Đ, Phường N, thành phố Sóc T, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Tuấn A: Bà Đinh Thị Ái T – Phó Phòng phụ trách PGD Thạnh P (có mặt).
Địa chỉ: Số L, xã Thạnh P, huyện Mỹ X, tỉnh Sóc Trăng.
Theo văn bản ủy quyền ngày 15/5/2020.
- Bị đơn: Ông Huỳnh S, sinh năm 1969 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp Kiết L, xã Lâm T, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2020 của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S và lời khai tại Tòa án của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đinh Thị Ái T trình bày:
Ngày 14/5/2018 Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Sóc T – Phòng giao dịch Thạnh P (gọi tắt Ngân hàng) có ký với ông Huỳnh S Hợp đồng tín dụng vốn lãi chia đều số LD1813400556 cho ông S vay số tiền 400.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 9%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, vốn gốc và lãi được chia thành 60 kỳ trả nợ, mỗi tháng trả 01 kỳ, mỗi kỳ trả 9.666.000 đồng, riêng kỳ cuối trả 9.706.000 đồng, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 30/6/2018, các kỳ kế tiếp vào ngày cuối cùng mỗi tháng. Đến ngày 30/11/2019 thì ông S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo kỳ, để phát sinh nợ quá hạn. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh S trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 24/02/2021 tổng cộng 319.125.194 đồng, trong đó vốn gốc 267.012.000 đồng, lãi trong hạn 43.400.000 đồng và lãi quá hạn 8.713.194 đồng. Ngoài ra, yêu cầu ông S tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 25/02/2021 theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi trả dứt nợ vay.
Theo tờ tường trình ngày 27/11/2020 và lời khai tại Tòa án, bị đơn ông Huỳnh S trình bày:
Ông thống nhất toàn bộ nội dung Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Sóc T – Phòng giao dịch Thạnh P khởi kiện là đúng, ông thừa nhận hiện còn nợ Ngân hàng số tiền vốn và lãi như Ngân hàng trình bày số tiền còn nợ tính đến ngày 24/02/2021 tổng cộng 319.125.194 đồng, trong đó vốn gốc 267.012.000 đồng, lãi trong hạn 43.400.000 đồng và lãi quá hạn 8.713.194 đồng và đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền trên, nhưng xin được trả dần với hình thức mỗi tháng trả 3.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ. Do hiện nay hoàn cảnh ông gặp khó khăn.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:
Từ khi thụ lý đến khi kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa xét xử, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đúng với các quy định của pháp luật. Qua chứng cứ và kết quả tranh tụng tại Tòa có cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự phát sinh từ hợp đồng dân sự giữa tổ chức tín dụng với cá nhân được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông S có nơi cư trú tại xã Lâm T, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.
Về nội dung: Các đương sự đều thừa nhận, thông qua Hợp đồng tín dụng vốn lãi chia đều số LD1813400556 và Giấy nhận nợ cùng ngày 14/5/2018, Ngân hàng thương mại cổ phần S đã giải ngân cho ông Huỳnh S vay số tiền vốn 400.000.000 đồng để tiêu dùng, thời hạn vay 60 tháng, chia thành 60 kỳ trả nợ. Quá trình thực hiện hợp đồng đến ngày 30/11/2019 ông S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không tiếp tục trả nợ theo thỏa thuận, để phát sinh nợ quá hạn, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông S trả số tiền còn nợ tính đến ngày 24/02/2021 tổng cộng 319.125.194 đồng, trong đó vốn gốc 267.012.000 đồng, lãi trong hạn 43.400.000 đồng và lãi quá hạn 8.713.194 đồng. Tại phiên tòa bị đơn ông S đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ nêu trên nhưng xin được trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi dứt nợ. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh do các đương sự đều thừa nhận. Bị đơn thừa nhận nợ và đồng ý trả nợ cho nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền 319.125.194 đồng.
Về thời gian trả nợ: Tại phiên tòa bị đơn xin trả dần số tiền còn nợ, mỗi tháng trả 3.000.000 đồng đến khi dứt nợ với lý do hoàn cảnh khó khăn, nhưng nguyên đơn không đồng ý, các bên không thỏa thuận được thời gian trả nợ. Xét yêu cầu của đương sự thuộc thẩm quyền giai đoạn thi hành án dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Qua phân tích như trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện Thạnh Trị là có cơ sở chấp nhận.
Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Buộc bị đơn ông Huỳnh S có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền còn nợ tính đến ngày 24/02/2021 tổng cộng 319.125.194 đồng (ba trăm mười chín triệu một trăm hai mươi lăm nghìn một trăm chín mươi bốn đồng), trong đó vốn gốc 267.012.000 đồng, lãi trong hạn 43.400.000 đồng và lãi quá hạn 8.713.194 đồng. Ông Huỳnh S còn phải chịu tiền lãi phát sinh kể từ ngày 25/02/2021 theo mức lãi suất đã thỏa thuận ghi trong Hợp đồng tín dụng vốn lãi chia đều số LD1813400556 và Giấy nhận nợ cùng ngày 14/5/2018 cho đến khi thanh toán xong nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn Huỳnh S có nghĩa vụ nộp án phí số tiền 15.956.259 đồng (mười lăm triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi chín đồng). Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S tiền tạm ứng án phí đã nộp 7.149.000 đồng (bảy triệu một trăm bốn mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003323 ngày 29/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Thạnh Trị; - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thành Nghiệp |