- Tranh chấp gì? án dân sự — "tranh chấp hợp đồng mu bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Về thực hiện nghĩa vụ trả nợ: Buộc bị đơn bà Lưu Thị Y và người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan ông Nguyễn Ngọc N phải có nghĩa vụ li n đới trả cho nguy n đơn anh Đỗ Anh T số tiền nợ 32.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng D n sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng D n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 06/2021/DS-ST Ngày 28-9 -2021 “v/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Khắc Toản
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phùng Thị Tố Trinh và bà Ksor H’Qúa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hải Biển – Thư ký Tòa án, Tòa án nh n d n huyện K, t nh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện , tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương Dịu – Kiểm sát vi n.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021 tại trụ s Tòa án nh n d n huyện K, t nh Gia Lai m phi n tòa t ử sơ thẩm công khai vụ án d n sự thụ lý số 02/2021/TLST – DS, ngày 05 tháng 4 năm 2021 về việc Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra t ử số 06/2021/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2021, gi a các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đỗ Anh T, sinh năm 1988. Có mặt.
Nơi cư trú: Buôn S, xã C, huyện K, t nh Gia Lai.
- Bị đơn: Bà Lưu Thị Y, sinh năm 1964. Có mặt.
Nơi ĐKHKTT: tổ Z, phường H, thị ã A, t nh Gia Lai.
Nơi tạm trú: Buôn C, xã C, huyện K, t nh Gia Lai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1965. Có mặt.
Nơi ĐKHKTT: số X, đường N, phường Y, thành phố P, t nh Gia Lai.
Nơi tạm trú: Buôn C, xã C, huyện K, Gia Lai.
- Người làm chứng: Bà Trần Thị Minh N, sinh năm 1982. Có mặt.
Địa ch : Tổ d n phố E, thị trấn P, huyện K, t nh Gia Lai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn anh Đỗ Anh T trình bày:
Ngày 27 tháng 3 năm 2020 tôi có bán cho trạm c n L của bà Y 03 e mỳ, nhưng vì trạm c n chưa có đủ tiền thanh toán n n có đưa cho tôi 03 phiếu c n e mỳ, có ghi đơn giá thành tiền tr n PHIẾU CÂN XE và có đóng dấu màu anh CHƯA THANH TOÁN” và hẹn tôi khi nào có tiền thì đến lấy (tổng số tiền in tr n 03 phiếu là 32.300.280 đồng). Khi về tôi kẹp trong quyển v cất trong cốp e, và qu n là cất đ u. Vì tìm mãi không ra 03 PHIẾU CÂN XE của ngày 27 tháng 3 năm 2020 đ u cả n n tôi có l n báo với chủ trạm c n là cháu làm mất phiếu, cô cho cháu kiểm tra lại, thì chủ trạm c n có kiểm tra và bảo ngày 27 tháng 3 năm 2020 có c n 03 e mỳ này của tôi, và bảo là phiếu này đã có người lấy tiền. Vì bản th n tôi tìm không ra 03 phiếu và chủ trạm c n bảo có người lấy tiền rồi n n tôi nghĩ mình đánh rơi có người nhặt được đi lấy tiền rồi.
Vào ngày 30 tháng 10 năm 2020, tôi có tìm một số giấy tờ, vô tình lại tìm thấy 03 PHIẾU CÂN XE mỳ của ngày 27 tháng 3 năm 2020, ngay lập tức tôi l n nói chuyện với chủ trạm c n thì bà Y chủ trạm c n bảo là đã trả tiền 03 phiếu này rồi, tự nhi n tìm đ u ra 03 PHIẾU CÂN XE mỳ này mà l n đ y đòi lấy tiền. Tôi có nói như thế nào bà Y cũng không đồng ý trả lại số tiền đã ghi tr n 03 PHIẾU CÂN XE mỳ này cho tôi. Tôi có lên báo Công an ã giải quyết, nhưng bà Y không chịu trả lại tiền, công an ã đã lập bi n bản giải quyết không thành công.
Do vậy, tôi kính mong Toà án nh n d n huyện K buộc bà Lưu Thị Y phải trả cho tôi số tiền mua 03 e mỳ chưa thanh toán cho tôi tổng cộng là 32.300.280 đồng. Tôi không y u cầu tính lãi.
2. Bị đơn bà Lưu Thị Y trình bày:
Vợ chồng tôi mới uống K làm ăn được 03 năm nay. Ông T là người hay đi bán mỳ n n hay đến chỗ trạm c n của tôi để bán mỳ tươi. Vào ngày 27/3/2020 tôi có mua 03 e mỳ tươi của ông T, trị giá thành tiền tổng cộng là 32.300.280 đồng. Khi mua thì tôi chưa thanh toán ngay mà mấy ngày sau thì tôi đã thanh toán tiền cho ông T rồi. Nhưng không hiểu sao thì mấy ngày sau n a ông T qua hỏi tôi là tôi đã thanh toán tiền cho ông T mấy e mỳ này chưa thì tôi lấy phiếu gốc ra bảo đã thanh toán rồi thì ông T có in th m 03 phiếu c n mỳ này. Khi mua hàng của các khách hàng thì tôi dùng PHIẾU CÂN XE” của hộ gia đình tôi, nếu chưa trả tiền thì tr n phiếu có đóng dấu hình ch nhật màu anh in hàng ch CHƯA THANH TOÁN” giao cho khách hàng. Còn khi trả tiền rồi thì tôi cũng dùng chính phiếu này và đóng th m dấu ĐÃ THANH TOÁN” hình ch nhật in ch màu đỏ giao lại cho khách hàng. Nhưng do nhiều lúc sơ suất có nhiều khách hàng như ông T chứ không ri ng gì của ông T nên có lúc tôi đóng dấu ĐÃ THANH TOÁN, có lúc qu n, n n 03 phiếu của ông T này tôi cũng bị qu n n n ch đóng dấu ĐÃ THANH TOÁN 03 bản lưu của gia đình tôi. Nay ông T cho rằng do lúc lấy 03 PHIẾU CÂN XE này tôi chưa thanh toán tiền và do ông T để qu n không tìm thấy, nay mới tìm thấy đi đòi tiền của tôi thì tôi không đồng ý quan điểm này của ông T. Vì không ai mua bán mỳ với tôi mà để l u không lấy tiền như vậy, thường thì tôi mua mỳ ong là thanh toán ngay, hoặc mấy ngày sau chứ không có chuyện nợ l u. Nếu qu n thì một vài b a chứ không cả năm như vậy. Nay tôi không đồng ý quan điểm của ông T. Chúng tôi khẳng định là đã thanh toán tiền 03 e mỳ đã mua ngày 27/3/2020 cho ông T rồi.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc N trình bày:
Tôi có quan điểm trình bày giống y như vợ tôi bà Lưu Thị Y, gia đình tôi đã thanh toán tiền 03 e mỳ đã mua ngày 27/3/2020 của ông T cho ông T rồi. Nên chúng tôi không đồng ý trả n a.
4. Người làm chứng bà Trần Thị Minh N trình bày:
Tôi là người cũng thường uy n bán mỳ tươi cho bà Y, mỗi lần c n mỳ tươi chưa trả tiền thì bà Y có đưa PHIẾU CÂN XE mỳ đóng dấu hình ch nhật CHƯA THANH TOÁN màu anh đưa cho tôi, sau đó nhiều khi đến thanh toán tiền của bà Y thì bà Y cũng không đóng dấu ĐÃ THANH TOÁN hình ch nhật vào các phiếu này. Tôi không được chứng kiến việc bà Y mua 03 e mỳ ngày 27/3/2020 hay dã thanh toán tiền mỳ cho anh T.
5. Phát biểu ý kiến sau phần tranh luận, Kiểm sát vi n cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tu n thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phi n toà Hội đồng t ử (sau đ y gọi tắt là HĐXX) đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phi n toà cho đến trước khi nghị án.
Phần nội dung vụ án thì Kiểm sát vi n có quan điểm là: Ngày 27/3/2020, anh T có bán mỳ cho trạm cân L 03 xe mỳ, nhưng vì trạm c n chưa đủ tiền để thanh toán n n có đưa 03 phiếu c n mỳ, ghi đơn giá thành tiền tr n phiếu c n e và có đóng dấu xanh CHƯA THANH TOÁN” và hẹn anh T khi nào có tiền thì đến lấy. Tổng tiền in tr n 3 phiếu là 32.300.280 đồng. Tuy nhi n, anh T làm thất lạc 03 phiếu c n mỳ trên. Đến ngày 30/10/2020, anh T đã tìm thấy 03 phiếu c n mỳ này. Ngay lập tức, anh T tìm bà Y- chủ trạm c n để báo lại thì được bà Y nói đã trả tiền cho 03 phiếu mỳ này rồi. Anh T đi đòi nhưng bà Yến không đồng ý trả. Để chứng minh cho quan điểm của mình anh T đã cung cấp cho Tòa án 03 phiếu c n mỳ của trạm c n L do bà Y đứng t n hộ kinh doanh đóng dấu CHƯA THANH TOÁN hình ch nhật mực màu xanh.
Trạm c n L có địa ch tại Buôn C, xã C, huyện K là của bà Lưu Thị Y đứng t n kinh doanh với hình thức hộ kinh doanh, kinh phí hoạt động là từ nguồn vốn chung của bà Y và chồng là ông N. Trạm c n của bà Y chủ yếu thu mua nông sản, mua tới đ u thanh toán tiền tới đó, không nợ l u và thanh toán bằng tiền mặt. Khi mua hàng, bà Y sử dụng PHIẾU CÂN XE trên phiếu có đóng dấu CHƯA THANH TOÁN giao cho khách hàng. Sau khi trả tiền ong, bà Y đóng dấu ĐÃ THANH TOÁN vào PHIẾU CÂN XE này cho khách hàng.
Bà Y công nhận gi a bà và anh T có mối quan hệ làm ăn mua bán với nhau. Ngày 27/3/2020 bà có mua của anh T 03 xe mỳ tươi có tổng giá trị là 32.300.280 đồng, nhưng lúc đó bà chưa có tiền thanh toán ngay n n bà đã đưa cho anh T 03 PHIẾU CÂN XE có đóng dấu CHƯA THANH TOÁN mực màu anh cho anh T. Vài ngày sau bà đã thanh toán bằng tiền mặt cho anh T nhưng bà đã qu n đóng dấu ĐÃ THANH TOÁN vào 03 PHIẾU CÂN XE mà đã cung cấp cho anh T.
Từ nh ng chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án ác định: Ngày 27/3/2020, gi a anh T và bà Y đã thực hiện việc mua bán hàng hóa với nhau và có ác lập hợp đồng bằng văn bản mà cụ thể là PHIẾU CÂN XE thể hiện số lượng mỳ tươi, giá trị thành tiền là hoàn toàn có thật. Phiếu c n e này được lập thành hai bản, người mua và người bán mỗi b n gi một bản. Trên phiếu c n e do anh T cung cấp đều thể hiện số lượng, thành tiền và có đóng dấu CHƯA THANH TOÁN điều này hoàn toàn phù hợp với hình thức kinh doanh mua bán của trạm c n bà Y đã khai. Bà Y thừa nhận 03 phiếu c n e mà anh T cung cấp là của trạm c n do bà đứng t n in ra.
Bà Y có quan điểm mình đã thanh toán tiền theo 03 PHIẾU CÂN XE mỳ trên cho anh T và bà đã qu n đóng dấu ĐÃ THANH TOÁN vào phiếu c n mỳ của anh T nhưng bà không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình. Còn anh T đã nhiều lần đi đòi, nhưng bà Y không chịu trả. Nay anh T kh i kiện y u cầu Tòa án buộc bà phải trả số tiền 32.300.280 đồng là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp theo quy định của pháp luật.
Do đó, căn cứ các Điều 116, 117, 118, 119, 274, 275, 385, 430, 431, 433, 440 BLDS 2015. Căn cứ khoản 4 Điều 147 của BLTTDS năm 2015 và khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị HĐXX: Chấp nhận y u cầu kh i kiện của nguy n đơn anh Đỗ Anh T, buộc bị đơn bà Lưu Thị Y và ông Nguyễn Ngọc N phải li n đới trả số tiền mua hàng là 32.300.280 đồng cho anh T, không tính lãi. Bà Y và ông N phải li n đới chịu án phí d n sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghi n cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phi n tòa, HĐXX nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đ y là vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và nguy n đơn anh Nguyễn Anh T kh i kiện bị đơn bà Lưu Thị Y có nơi cư trú tại xã C, huyện K, t nh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện K thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào chứng cứ là 03 (Ba) PHIẾU CÂN XE ngày 27/3/2020 được lập thành văn bản in tr n giấy trắng cụ thể là: 01 (Một) Phiếu PHIẾU CÂN XE ngày 27/3/2020 có các nội dung chính: Trạm c n điện tử 80T L, loại hàng Mì tươi, khách hàng HUU NGAN, STT: 270306, TL hàng thực tế 6,291kg, thành tiền 10,443,060 đồng, có đóng dấu CHƯA THANH TOÁN” hình ch nhật mực màu anh; 01 (Một) Phiếu PHIẾU CÂN XE ngày 27/3/2020 có các nội dung chính: Trạm c n điện tử 80T L, loại hàng Mì tươi, khách hàng HUU NGAN, STT: 270317, TL hàng thực tế 6,966kg, thành tiền 11,563,560 đồng, có đóng dấu CHƯA THANH TOÁN” hình ch nhật mực màu anh; 01 (Một) Phiếu PHIẾU CÂN XE ngày 27/3/2020 có các nội dung chính: Trạm c n điện tử 80T L, loại hàng Mì tươi, khách hàng HUU NGAN, STT 270312, TL hàng thực tế 6,201kg, thành tiền 10,293,660 đồng, có đóng dấu CHƯA THANH TOÁN” hình ch nhật mực màu anh, mà nguy n đơn anh Đỗ Anh T đã cung cấp cho Tòa án. Căn cứ vào lời khai của nguy n đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan và các tài liệu, chứng cứ mà nguy n đơn, bị đơn giao nộp có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có cơ s để khẳng định: vào ngày 27/3/2020 gi a anh Đỗ Anh T và bà Lưu Thị Y có xác lập giao dịch hợp đồng mua bán tài sản là 03 e ô tô mỳ tươi với tổng số tiền là 32.300.280 đồng. Nguy n đơn và bị đơn không không phản đối tình tiết này vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015, HĐXX công nhận tình tiết này là sự thật.
Theo quan điểm kh i kiện thì anh T cho rằng sau khi bán 03 e mỳ tươi này cho bà Y thì anh T mới nhận được 03 PHIẾU CÂN XE có đóng dấu CHƯA THANH TOÁN hình ch nhật mực màu anh của bà Y đưa, mà chưa nhận tiền bán 03 e mỳ này cho bà Y. Còn bà Y thì cho rằng khi mua mỳ của anh T thì chưa trả tiền nhưng sau đó mấy ngày thì đã trả rồi, nhưng qu n đóng dấu ĐÃ THANH TOÁN mầu đỏ vào PHIẾU CÂN XE MỲ đã đưa cho anh T. Trong việc mua bán bà Y có đôi khi sơ suất nhiều trường hợp thanh toán tiền rồi mà cũng chưa đóng dấu. Ví dụ như bà Y hay mua bán mỳ với bà Trần Thị Minh N đôi khi cũng qu n đóng dấu ĐÃ THANH TOÁN vào các PHIẾU CÂN XE cho bà N nh ng vẫn trả tiền rồi.
Hình thức mua bán mỳ tươi của cơ s kinh doanh bà Y mà bà Y đã ác định với HĐXX là khi mua mỳ tươi của các khách hàng thì suất cho khách hành PHIẾU CÂN XE, nếu chưa thanh toán tiền thì đóng dấu CHƯA THANH TOÁN hình ch nhật màu anh, còn nếu thanh toán tiền rồi thì đóng dấu ĐÃ THANH TOÁN hình ch nhật màu đỏ vào phiếu này. Anh T cung cấp cho Tòa án 03 (Ba) PHIẾU CÂN XE đóng dấu CHƯA THANH TOÁN hình ch nhật màu anh của cơ s kinh doanh bà Y và khẳng định là bà Y chưa thanh toán tiền 03 e mỳ tươi này cho anh T. Còn bà Y thì cho rằng đã thanh toán tiền 03 e mỳ này cho anh T rồi, có cung cấp 03 PHIẾU CÂN XE bản lưu tại hộ kinh doanh của mình có đóng dấu ĐÃ THANH TOÁN, nhưng các phiếu này không có giá trị thể hiện việc anh T đã nhận tiền, đồng thời bà Y cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ, giấy tờ nào hoặc hóa đơn thể hiện đã thanh toán tiền 03 e mỳ tươi cho anh T. Đồng thời 03 phiếu PHIẾU CÂN XE mà anh T cung cấp cũng không có dấu ĐÃ THANH TOÁN hình ch nhật màu đỏ của cơ s kinh doanh bà Y. Mặc dù bà Y có dẫn chứng trường hợp bà N là người nhiều lần bán mỳ cho bà Y, bà Y đã trả tiền nhưng cũng không có đóng dấu ĐÃ THANH TOÁN vào PHIẾU CÂN XE của bà N. Bà N khẳng định không biết và không chứng kiến việc bà Y mua mỳ hay đã thanh toán tiền mỳ ngày 27/3/2020 cho anh T. Cho nên, căn cứ vào nguy n tắc mua bán của cơ s kinh doanh mà bà Y đã trình bày khẳng định, căn cứ vào chứng cứ mà nguy n đơn anh T đã cung cấp cho Tòa án. HĐXX thấy có cơ s chấp nhận y u cầu kh i kiện của nguy n đơn anh T, không chấp nhận quan điểm của bị đơn bà Y. Việc anh T kh i kiện bà Y là đúng với quy định tại các Điều 274, 275, 276, 280, 288, 351, 357của BLDS về thực hiện nghĩa vụ d n sự.
Việc bà Y mua mỳ tươi của anh T mặc dù do một mình bà Y ác lập. Nhưng cơ s kinh doanh của bà Y được cấp ph p là Hộ kinh doanh do bà Y đứng t n, nhưng ông N là chồng bà Y là thành vi n trong hộ cùng có đóng góp vốn vào mục đích kinh doanh chung. Vì vậy, ông N phải có nghĩa vụ li n đới với bà Y trả số tiền nợ cho nguy n đơn anh T.
Do vậy cần chấp nhận toàn bộ y u cầu kh i kiện của anh T, buộc bà Y và ông N phải có nghĩa vụ li n đới trả số tiền đã mua mỳ còn nợ là 32.300.280 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm nghìn hai trăm tám mươi đồng) cho anh T.
Về án phí: Do toàn bộ y u cầu của nguy n đơn anh T được chấp nhận n n bị đơn bà Y và người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan ông N phải chịu án phí d n sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho anh T toàn bộ số tiền tạm ứng án phí d n sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 4, 5, 6, khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 40, khoản 1 Điều 147, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng D n sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 274, 275, 276, 280, 288, 351, 357, 430, 431, 433, 434 và 440 của Bộ luật d n sự 2015;
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuy n ử:
1. Về thực hiện nghĩa vụ trả nợ: Buộc bị đơn bà Lưu Thị Y và người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan ông Nguyễn Ngọc N phải có nghĩa vụ li n đới trả cho nguy n đơn anh Đỗ Anh T số tiền nợ 32.300.280 đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm nghìn hai trăm tám mươi đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn y u cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án ong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật d n sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d n sự, người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án d n sự.
2.Về án phí: Buộc bị đơn bà Lưu Thị Y và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc N phải có nghĩa vụ li n đới nộp 32.300. 280 đồng x 5% = 1.615.014 đồng (Một triệu sáu trăm mười lăm nghìn không trăm mười bốn đồng) án phí d n sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho anh Đỗ Anh T toàn bộ số tiền đã tạm nộp án phí trước đ y là 807.507 đồng (Tám trăm linh bảy nghìn năm trăm linh bảy đồng) theo bi n lai thu số 0007650 ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Chi cục thi hành án d n sự huyện K, t nh Gia Lai.
Nguy n đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án (ngày 28/9/2021) để y u cầu Tòa án nhân dân t nh Gia Lai t ử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự (03 bản); - Tòa án t nh Gia lai (01 bản); - VKSND h Krông Pa (02 bản); - Chi cục THADS h. Krông Pa (01 bản); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đố Khắc Toản |