vanban.org

Bản án 06/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 04/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo: 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HSST
Ngày: 04-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Bích Hợp

2. Bà Hoàng Thị Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm - Thư ký của Toà án nhân dân Tp. Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 189/2019/HSST ngày 25/12/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐXXST-HS ngày 15/01/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: TRẦN NGỌC A, sinh năm 1996 tại huyện T, Bình Định; Nơi cư trú: Thôn N, xã Phước H, huyện T, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn T, sinh năm 1972; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Ngày 25/4/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thứ thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 13/10/2019 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TP. Quy Nhơn.

- Bị hại:

Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1993 “Vắng mặt”. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Tổ B, khu vực C, phường D, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Người tham gia tố tụng khác:

1. Đỗ Thị O, Nguyễn Thanh V, Trần Văn B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 13/10/2019, Trần Ngọc A điều khiển xe mô tô 77X9-3723 (do chị dâu của A là Đỗ Thị O làm chủ sở hữu) mang theo 01 kìm cộng lực (dài 37cm) đi dạo các tuyến đường trên địa bàn TP.Quy Nhơn tìm tài sản của người dân để sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 13 giờ cùng ngày, A phát hiện quán nhậu “Bè Sông” (thuộc Tổ B, khu vực C, phường D, TP. Quy Nhơn) của anh Nguyễn Thanh T không có ai trông coi nên A dựng xe mô tô tại bờ đê cách quán nhậu khoảng 20 mét rồi cầm kìm cộng lực đi bộ vào quán cắt ổ khóa kho chứa hàng của quán lấy 02 thùng bia Heineken Lager chở đi bán cho 01 người lạ đi đường (không rõ lai lịch) được 600.000 đồng. Khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, A quay lại quán “Bè Sông” tiếp tục lén lút lấy 03 thùng bia Heineken Siver và 02 thùng bia Sài Gòn Lager mang ra xe thì bị anh T phát hiện giữ lại và báo công an. Trong quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Trần Ngọc A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 23/10/2019, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP.Quy Nhơn kết luận: 02 thùng bia Heineken Lager loại 24 lon dung tích 330ml, trị giá: 770.000 đồng; 03 thùng bia Heineken Siver loại 24 lon dung tích 330ml, trị giá 1.200.000 đồng và 02 thùng bia Sài Gòn Lager loại 24 lon dung tích 330ml, trị giá 460.000 đồng. Tổng giá trị: 2.430.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Quy Nhơn tạm giữ 03 thùng bia Heineken Siver, 02 thùng bia Sài Gòn Lager và đã trả lại cho anh Nguyễn Thanh T; tạm giữ 01 xe mô tô 77X9-3723 và đã trả lại cho chị Đỗ Thị O; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 đèn pin, số tiền 1.200.000 đồng và đã trả lại Trần Ngọc A; tạm giữ 01 kiềm cộng lực dài 37cm và số tiền 600.000 đồng.

Quá trình điều tra, gia đình Trần Ngọc A đã bồi thường số tiền 770.000 đồng cho anh Nguyễn Thanh T, anh T không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSQN ngày 24/12/2019 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố Trần Ngọc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trần Ngọc A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Ngọc A về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Trần Ngọc A từ 09 tháng đến 12 tháng tù, đồng thời tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thứ thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số 11/2019/HSST ngày 25/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Thanh T không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 600.000 đồng do phạm tội mà có; Tịch thu tiều hủy 01 kiềm cộng lực bị cáo sử dụng để làm phương tiện trộm cắp tài sản.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào chiều ngày 13/10/2019, bị cáo Trần Ngọc A đã sử dụng kiềm cộng lực cắt ổ khóa kho chứa hàng quán nhậu “Bè Sông” (thuộc phường D, TP. Quy Nhơn), đột nhập vào bên trong chiếm đoạt 02 thùng bia Heineken Lager, 03 thùng bia Heineken Siver và 02 thùng bia Sài Gòn Lager của anh Nguyễn Thanh T có tổng trị giá 2.430.000 đồng.

Bị cáo Trần Ngọc A đã bị Tòa án xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” và chưa được xóa án tích nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành công dân tốt. Do tham lam, xem thường pháp luật, lại chây lười lao động, muốn có tiền tiêu xài, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, đã cắt khóa đột nhập vào quán nhậu của anh Nguyễn Thanh T chiếm đoạt 07 thùng bia các loại có tổng trị giá 2.430.000 đồng. Do đó, bị cáo Trần Ngọc A đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi do bị cáo Trần Ngọc A gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo Trần Ngọc A phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên HĐXX áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án này.

Tuy nhiên cũng xem xét: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, đã bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo.

Về bồi thường thiệt hại: Anh Nguyễn Thanh T đã nhận lại 05 thùng bia các loại (03 thùng bia Heineken Siver và 02 thùng bia Sài Gòn Lager), gia đình bị cáo cũng đã bồi thường cho anh T 770.000 đồng trị giá 02 thùng bia Heineken Lager bị cáo trộm cắp đem bán không thu hồi được. Anh T không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP. Quy Nhơn thu giữ của bị cáo: 01 kiềm cộng lực và số tiền 600.000 đồng. Xét thấy, số tiền 600.000 đồng bị cáo có được do bán 02 thùng bia trộm cắp của anh T, lẽ ra số tiền này trả lại cho anh T nhưng gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh T xong, do đó trả lại cho bị cáo số tiền trên nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với kiềm cộng lực bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về vấn đề khác: Chị Đỗ Thị O có hành vi cho Trần Ngọc A mượn xe mô tô 77X9-3723, nhưng không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện trộm cắp tài sản nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị Đỗ Thị O là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Ngọc A 09 (chín) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thứ thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số 11/2019/HSST ngày 25/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2019.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo: 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 kiềm cộng lực dài 37cm, sơn màu xanh, tay cầm đen, bên trên có in chữ A0741-14350MM/14R, đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/12/2019 và Ủy nhiệm chi (chuyền khoản, chuyển tiền điện tử) lập ngày 27/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Trần Ngọc A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hai vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ