vanban.org

Bản án 06/2020/HS-ST — Hình sự

Tòa án Khu vực 2 - QK3, án Quân khu 3 Tuyên án 25/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh Ph - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN QUÂN SỰ
KHU VỰC QUÂN KHU 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HS-ST
Ngày 25/9/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM

TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 3

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 4/ Vũ Tuấn Hai

Các Hội thẩm quân nhân:

- 1// Phạm Tất Thắng.

- 1// Lê Văn Tuấn Anh.

- Thư ký phiên tòa: 3/ Lê Văn Cường, Cán bộ Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 3.

- Đại diện Viện kiểm sát quân sự Khu vực 32 tham gia phiên tòa: 2// Đinh Thanh Phong- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại Hội trường Phân hiệu 2, Trường Cao đẳng nghề số 3, Bộ Quốc phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2020/TLST- HS ngày 03 tháng 9 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Minh Ph, tên gọi khác: Không, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1998 tại xã TS, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn 10, xã TS, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trung Đ và bà Nguyễn Thị X; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 28/8/2018 bị Tòa án nhân dân Quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 09/02/2020, Trần Minh Ph chấp hành xong; nhân thân: Chưa bị kết án, hay xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ ngày 04/8/2020; tạm giam ngày 05/8/2020; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Ng; sinh ngày 22 tháng 3 năm 1995; nơi cư trú: Thôn TB, xã NN, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

Những người làm chứng: Anh Hoàng Văn H, chị Nguyễn Thị Thùy L, anh Dương Văn T, anh Bùi Văn C đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 06/4/2020, Bùi Hữu S điều khiển taxi chở Nguyễn Văn Ng đi đến thôn BK, xã NN thì va chạm với hai cháu Phạm Việt A và Phạm Bảo T là con của anh Phạm Khắc D. S, Ng đưa hai cháu vào Bệnh viện Q5, Cục HC, QK3 để thăm khám. Khi nhận được tin các con bị tai nạn, anh D cùng với Trần Minh Ph, Bùi Văn C và một số người quen đến Bệnh viện. Khoảng 19 giờ cùng ngày, mọi người đang đứng ở sảnh khu nhà điều trị tổng hợp chờ bác sĩ khám cho các con của anh D thì C và Ng xảy ra xô xát nhưng không gây thương tích gì. Ph (là bạn của C) thấy vậy lao vào dùng tay đẩy Ng, rồi dùng tay trái kẹp cổ Ng tay phải rút dao (dạng dao có chuôi màu đen, lưỡi màu sáng dài khoảng 30 cm) trong túi quần bên phải của mình đâm vào bụng phải, thắt lưng phải và mông trái Ng gây tỷ lệ tổn thương cơ thể cho anh Ng 04%.

Lời khai của bị cáo Trần Minh Ph trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thể hiện: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 06/4/2020, tôi và anh C đang trên đường đi lên sảnh khu nhà điều trị tổng hợp Bệnh viện Q 5, Cục HC, QK 3 để thăm con của anh D bị tai nạn thì anh C gặp anh Ng; anh C và anh Ng lời qua tiếng lại và xảy ra xô xát. Tôi nhìn thấy vậy thì lao vào dùng tay phải đẩy anh Ng ra, anh Ng dùng khuỷu tay phải huých vào người tôi; tôi dùng tay trái ghì cổ anh Ng, dùng tay phải rút trong túi quần phải tôi ra một con dao. Tôi cầm dao đâm từ sau ra trước từ dưới lên trên vào mông và hông anh Ng làm anh Ng bị thương; sau đó tôi tiếp tục giằng co nhau. Lúc này tay phải tôi vẫn cầm dao nên không biết có đâm vào người anh Ng nữa hay không thì anh Ng vùng ra bỏ chạy về phía căng tin Bệnh viện Q 5. Tôi chạy đuổi theo được khoảng 01 đến 02 m thì dừng lại đi vào sảnh. Khi tôi gây thương tích cho anh Ng thì anh C đứng cách tôi khoảng 01m không có hành động, lời nói gì.

Lời khai của bị hại anh Nguyễn Văn Ng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa có nội dung: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 06/4/2020 tại sảnh khu nhà điều trị tổng hợp Bệnh viện Q 5, Cục HC, QK 3, tôi và anh C xảy ra lời qua tiếng lại; anh C dùng hai tay đẩy vào ngực tôi, tôi bị lùi về phía sau một, hai bước thì bị Ph ở gần đó lao vào dùng tay trái quàng cổ ghì tôi lại, tay phải cầm dao đâm từ dưới lên trên, từ sau ra trước vào mông bên trái và hông bên phải tôi; tôi cúi gập người xuống giằng co với Ph thì thấy man mát ở phần bụng dưới bên phải và đau nên đã cố vùng ra chạy thoát. Khi giằng co với Ph, tôi không quan sát được hành động của anh C như thế nào. Tôi yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật đối với người trực tiếp gây ra thương tích cho tôi.

Lời khai của người làm chứng Dương Văn T trong quá trình điều tra thể hiện: Tôi trực tiếp nhìn thấy anh C và Ng đang xô xát, đánh nhau, sau đó Ph lao vào dùng tay, chân đánh anh Ng; còn anh C đứng nhìn không có hành động gì. Sau đó anh Ng vùng ra bỏ chạy được khoảng 2 đến 3m thì bị Ph dùng tay trái túm được, quàng cổ ghì lại, tay phải cầm một vật dạng dao liên tục đâm từ sau ra trước nhiều lần vào các bộ phận trên người anh Ng, sau đó anh Ng vùng ra chạy đi.

Lời khai của người làm chứng Bùi Văn C trong quá trình điều tra có nội dung: Khi đi lên sảnh, tôi nhìn thấy một người thanh niên đi từ hướng căng tin Bệnh viện Q5 tay đang cầm bánh mỳ ăn đi lên sảnh dãy nhà 7 tầng Bệnh viện Q5. Tại nơi lên xuống gần sảnh của dãy nhà 7 tầng Bệnh viện Q5 người thanh niên này chặn trước mặt tôi (sau này tôi mới biết người thanh niên này tên là Ng), dùng tay trái túm vào cổ áo tôi và hơi nâng lên và hỏi “Mày tìm bố mày à? Sau đó dùng cùi trỏ tay phải đánh vào người tôi nhưng tôi đỡ được; tôi liền dùng tay phải đấm vào đầu anh Ng, dùng hai tay đẩy anh Ng ra xa, thì Ph lao vào đẩy anh Ng ra xa người tôi. Lúc này tay trái Ph nắm vào phía sau cổ anh Ng kéo anh Ng ra. Tôi định lao lên thì thấy anh Ng vùng ra bỏ chạy nên thôi. Sau đó chúng tôi lên xe ô tô để đưa con của anh D sang bệnh viện khác chụp chiếu. Lúc trên xe ô tô thì tôi mới biết được là Ph dùng dao dâm anh Ng”.

Kết luận giám định pháp y số 134/20/TgT ngày 08/4/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 04%; cơ chế hình thành các vết thương: Vật nhọn, cứng, có cạnh sắc tác động gây thương tích.

Lời khai của những người làm chứng Hoàng Văn H, Nguyễn Thị Thùy L có nội dung phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, những người làm chứng khác và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án được làm rõ tại phiên tòa.

Tại bản Cáo trạng số 03/CT- VKSKV32 ngày 03 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát quân sự Khu vực 32 đã truy tố Trần Minh Ph về tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả do bị cáo gây ra; nguyên nhân xảy ra vụ án và kết luận bị cáo dùng dao gây tổn thương cơ thể 04% sức khỏe đối với anh Nguyễn Văn Ng. Con dao bị cáo dùng để gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Ng được xác định là hung khí nguy hiểm. Bị cáo không quen biết, không có mâu thuẫn với anh Nguyễn Văn Ng nhưng đã dùng dao đâm anh Ng làm anh Ng bị thương nên hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ. Do đó, hành vi của bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của BLHS. Đối với hành vi của Bùi Văn C, Viện kiểm sát quân sự Khu vực 32 xét thấy không đủ căn cứ để xác định C phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với bị cáo trong hành vi bị cáo dùng dao đâm anh Nguyễn Văn Ng bị thương. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo ra đầu thú. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo có 01 tiền sự, có nhân thân xấu, cần cách ly xã hội một thời gian đối với bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Minh Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của BLHS tuyên phạt bị cáo Trần Minh Ph từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (04/8/2020). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo Ph đã có hành vi gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Ng với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%; lỗi trong vụ án này hoàn toàn thuộc về bị cáo. Do vậy, bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Nguyễn Văn Ng.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 48 của BLHS; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1, 2 Điều 590 của Bộ luật Dân sự (BLDS) đề nghị HĐXX buộc bị cáo Trần Minh Ph bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Nguyễn Văn Ng tổng số tiền từ 27.111.068 đồng đến 28.601.068 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đối với con dao bị cáo Ph dùng để gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Ng, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy nên đề nghị HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Minh Ph phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và từ 1.355.553 đồng đến 1.430.053 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Trong phần tranh luận, bị cáo, bị hại đều nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng, bị cáo rất ân hận về sai phạm của mình đã gây ra, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Minh Ph khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng đã nêu; lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với lời khai của bị hại Nguyễn Văn Ng, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

HĐXX xét thấy có cơ sở khẳng định: Khoảng 19 giờ ngày 06/4/2020 tại sảnh khu nhà điều trị tổng hợp Bệnh viện Q5, Cục HC, QK3, Bùi Văn C xảy ra xô xát với Nguyễn Văn Ng. Trần Minh Ph là bạn của C thấy vậy đã dùng dao đâm vào bụng phải, thắt lưng phải và mông trái của anh Ng dẫn đến anh Ng bị thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể do Ph gây nên là 04%. Con dao bị cáo dùng để gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Ng được xác định là hung khí nguy hiểm; bị cáo và bị hại không quen biết, không mâu thuẫn nhưng bị cáo đã gây thương tích cho bị hại, hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ. Do đó, HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Minh Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của BLHS.

Bùi Văn C có xô xát với anh Nguyễn Văn Ng nhưng C không gây thương tích gì cho anh Ng. C không bàn bạc gì với Ph, không biết mục đích Ph lao lên để đánh Ng và cũng không nhìn thấy Ph dùng dao đâm anh Ng. Hành vi của C và Ph là độc lập, C không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với bị cáo Trần Minh Ph về hành vi Ph dùng dao đâm anh Nguyễn Văn Ng bị thương.

Nội dung lời luận tội, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã đến Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 4- Quân khu 3 đầu thú theo biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 17/6/2020. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bố mẹ đã ly hôn khi bị cáo còn nhỏ, không có việc làm ổn định.

Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại Bệnh viện Q 5. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 01 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, vi phạm trên của bị cáo chưa được xóa. Bị cáo không quen biết, không mẫu thuẫn gì với bị hại mà lại dùng dao đâm bị hại dẫn đến thương tích điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của vụ án mà bị cáo đã gây ra, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện giáo dục cải tạo tốt và phòng ngừa tội phạm chung. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo Ph đã có hành vi gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Ng với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%, lỗi trong vụ án này hoàn toàn thuộc về bị cáo. Do vậy, bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Nguyễn Văn Ng.

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 48 của BLHS; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1, 2 Điều 590 của BLDS thì việc giải quyết bồi thường thiệt hại đối với bị hại được xác định như sau:

- Chi phí hợp lý cho việc cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Q5, Cục HC, QK3 ngày 06/4/2020 là 1.247.769 đồng; từ ngày 08/4/2020 đến ngày 10/4/2020 là 1.259.782 đồng; tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ ngày 07/4/2020 đến ngày 08/4/2020 là 13.645.517 đồng; xét nghiệm tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức ngày 07/4/2020 là 574.000 đồng.

- Thuê xe cứu thương từ Bệnh viện Q5 đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là 1.900.000 đồng; thuê xe taxi từ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức về Bệnh viện Q5 là 1.200.000 đồng; thuê xe taxi từ Bệnh viện Q5 về nhà là 50.000 đồng.

- Mua thuốc điều trị là 294.000 đồng.

- Thuê xe taxi và thay băng, rửa vết thương 05 lần là 1.000.000 đồng.

- Anh Ng là lao động tự do có thu nhập thực tế nhưng không ổn định. Do vậy, HĐXX buộc bị cáo phải bồi thường khoản tiền thu nhập bị mất của anh Ng trong thời gian cấp cứu, điều trị từ ngày 06/4/2020 đến 10/4/2020) là 05 ngày x 200.000 đồng/ngày = 1.000.000 đồng.

- Khoản tiền thu nhập bị mất của bà Tống Thị Lý từ ngày 06/4/2020 đến ngày 10/4/2020 là 05 ngày x 200.000 đồng/ngày = 1.000.000 đồng.

(Căn cứ vào mức thu nhập bình quân tại UBND xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình là 200.000 đồng/người/ngày).

- Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe trong thời gian cấp cứu, điều trị của anh Ng từ ngày 06/4/2020 đến 10/4/2020 và sau khi hết thời gian điều trị là 07 ngày, tương ứng mỗi ngày 80.000 đồng là 960.000 đồng.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần: Anh Ng bị tổn thương cơ thể 04% sức khỏe. Do vậy HĐXX thấy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Ng một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm tương đương với 02 tháng lương cơ sở do nhà nước quy định là (02 x 1.490.000) đồng = 2.980.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền bị cáo phải bồi thường là: 1.247.769 đồng + 1.259.782 đồng + 13.645.517 đồng + 1.900.000 đồng + 1.200.000 đồng + 50.000 đồng + 574.000 đồng + 294.000 đồng + 1.000.000 đồng +1.000.000 đồng + 1.000.000 đồng + 960.000 đồng + 2.980.000 đồng = 27.111.068 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đối với con dao bị cáo Ph dùng để thực hiện hành vi đâm anh Ng, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy; do vậy HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Minh Ph phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 05% x 27.111.068 đồng = 1.355.553 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Vì các lẽ trên căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 của BLTTHS,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Minh Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo Trần Minh Ph 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (04/8/2020).

2. Về bồi thường thiệt hại

Áp dụng khoản 1 Điều 48 của BLHS; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1, 2 Điều 590 của BLDS buộc bị cáo Trần Minh Ph phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại anh Nguyễn Văn Ng tổng số tiền là: 27.111.068 (hai mươi bảy triệu một trăm mười một nghìn không trăm sáu mươi tám) đồng.

Áp dụng Điều 357 của BLDS, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được bồi thường, nếu bên có Ng vụ thi hành án chậm trả tiền thì họ còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 468 của BLDS.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự ".

3. Về án phí

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, bị cáo Trần Minh Ph phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.355.553 đồng (một triệu ba trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm năm mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/9/2020) bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án quân sự Quân khu 3./.

Cỡ chữ