- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hảng A L phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hảng A L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TAND THÀNH PHỐ LAI CHÂU TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 06/2020/HS-ST Ngày 18 - 11 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân Anh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Anh Bắc
Ông Lê Thanh Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Khuất Thị Lan – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá Đoàn - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2020/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2020/QĐXXST-HS ngày 04/11/2020 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Hảng A L; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1985, tại tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản T, xã T, huyện Đ, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hảng A G (đã chết) và con bà Giàng Thị M (sinh năm 1957);Vợ: Ma Thị Ch (sinh năm 1984), con: có 06 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2009; Về nhân thân: Không có tiền án, có 01 tiền sự (về hành vi trộm cắp tài sản theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ – XPHC ngày 08/7/2020 của Công an phường Tân Phong).
Ngày 01/8/2020 bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lai châu, nhưng vi phạm nghĩa vụ cấm đi khỏi nơi trú nên ngày 01/9/2020 bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã số 03 ngày 26/8/2020 của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu và bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lai Châu từ ngày 01/9/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại: Anh Trần Huy T, sinh năm: 1987
Địa chỉ: Tổ 15, phường P, thành phố C, tỉnh Lai Châu.
(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 04 giờ 40 phút ngày 31/7/2020 khi Hảng A L đi bộ tại khu vực tổ 15, phường Tân Phong để tìm tài sản trộm cắp, thì nghe tiếng gà gáy phát ra từ phía trong bãi chứa sắt vụn và phế liệu của nhà anh Trần Huy T. L lại gần cửa ra vào của bãi phế liệu, quan sát xung quanh không thấy có ai và thấy bên trong có 01 chuồng gà nên L đã tháo dây buộc cửa đi vào bên trong. Đến chuồng gà L kéo tấm bạt ở trước chuồng gà lên rồi đưa tay vào trong chuồng bắt được 04 con gà màu lông đen, L cho vào áo mưa màu vàng đã chuẩn bị từ trước rồi cuộn lại và nhanh chóng rời đi để tìm chỗ bán lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Đến khoảng hơn 05 giờ cùng ngày khi L đi đến đường Trần Đăng Ninh, thuộc tổ 23 phường Đông Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu thì bị tổ tuần tra của Công an phường Đông Phong yêu cầu kiểm tra, L thừa nhận 04 con gà mà L đang giấu là gà L trộm cắp.
Kết luận định gía tài sản số 16/KLĐG ngày 31/7/2020 của Hội đồng định gía tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Lai Châu kết luận: 04 con gà lông màu đen có trọng lượng là 7,2 kg có giá trị 1.008.000đồng (Một triệu không trăm linh tám nghìn đồng).
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Hảng A L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Các vấn đề khác của vụ án:
Hảng A L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong thời gian chưa được xóa tiền sự, nên Cáo trạng số 48/CT - VKSTP ngày 30/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu đã truy tố Hảng A L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận định giá tài sản mà bị cáo trộm cắp và Quyết định truy tố nêu trên.
Bị hại anh Trần Huy T đã được nhận lại tài sản bị mất nên trong quá trình điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm h, s khoản 1Điều 51Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hảng A L từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2020.
Áp dụng khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Trần Huy T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng của vụ án: là 01 áo mưa màu vàng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1Điều 12 Nghị Quyết 2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Bị cáo Hảng A L không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu.
Tại lời nói sau cùng bị cáo Hảng A L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Khoảng 4 giờ 40 phút ngày 31/7/2020 tại tổ 15, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, Hảng A L đã có hành vi trộm cắp 04 con gà, lông màu đen, trị gía 1.008.000đồng của anh Trần Huy T. Nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.
Tuy giá trị tài sản trộm cắp của Hảng A L dưới 2.000.000đồng nhưng Hảng A L đã thực hiện hành vi trộm cắp trong thời gian chưa được xóa tiền sự theo quyết định phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 08/7/2020 của Công an phường Tân Phong về hành vi trộm cắp tài sản.
Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Hảng A L là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật. Nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Lai Châu.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Hảng A L cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…
A, Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm..”
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng quy định của pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Tuy bị cáo không có tiền án, nhưng năm 2007 đã bị Tòa án xét xử về tội vận chuyển trái phép chất ma túy và phải đi chấp hành án, bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị không lớn, đã được trả lại cho bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1Điều 51Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đủ nghiêm khắc để giáo dục, răn đe giúp bị cáo cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là lao động tự do, công việc và thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng của vụ án: 01 áo mưa màu vàng chiều dài áo mưa là 100cm, chiều rộng cổ áo mưa là 50 cm, phần rộng nhất của áo mưa là 140 cm, là công cụ bị cáo dùng để thực hiện tội phạm nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Huy T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Hảng A L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Hảng A L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn hình phạt tù tính từ ngày 01/9/2020.
3. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu, tiêu hủy 01 áo mưa màu vàng chiều dài áo mưa là 100cm, chiều rộng cổ áo mưa là 50 cm, phần rộng nhất của áo mưa là 140 cm.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 02/10/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu với Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Lai Châu).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND thành phố Lai Châu; - Chi Cục THADS thành phố Lai Châu; - Công an thành phố Lai Châu; - Bị cáo; Bị hại. - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Vân Anh |