- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A P phạm tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy" - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A P phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HS-ST Ngày: 28/4/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Duy Hoài
Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Bỉnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Quốc Hợp
2. Ông Chu Văn Khuông
3. Ông Bùi Q Tùng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Lương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh An - Kiểm sát viên.
Ngày 28/4/2020, tại Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2020/QĐXXST-HS ngày 04/3/2020 đối với bị cáo:
Giàng A P, sinh năm 1994, tại tỉnh Lào Cai; nơi cư trú: khu Tây Sơn, thôn 1, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; trình độ h c vấn: Không; nghề nghiệp: Làm nông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Tin lành; con ông Giàng A S, sinh năm 1961 và bà Ma Thị S, sinh năm 1960 (đã chết); vợ Chấu Thị P, sinh năm 1992 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nh nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 13/7/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Mai – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người phiên dịch: Ông Lý Seo V, sinh năm 1978; địa chỉ: Trường tiểu h c Rô Men; thôn 2, xã R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Giàng A V; sinh năm 1992; nơi cư trú: khu Tây Sơn, thôn 1, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Huy P, sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn Đạ Mun, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vào khoảng 06 đến 07 giờ sáng ngày 13/7/2019, Giàng A P nhận được điện thoại của một người tên Giàng A T đặt vấn đề thuê P đến chỗ bán hàng của vợ chồng T ở chợ phiên người Mông tại thôn 7, xã Đ, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông để gặp Giàng Thị S (vợ của T) nhận gói “hàng trắng” tức là ma túy Heroine, sau đó chuyển cho người có tên g i là Giàng Seo Q ở xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và nhận tiền từ Q là 190.000.000đ; xong việc T sẽ trả công cho P với số tiền là 2.500.000đ, P đồng ý. Sau đó, T nói P đến nhà cậu của T tên là Hàng A L (cách nhà P khoảng 500 – 600m) g i L đến nhà P để T trao đổi qua điện thoại với L. Sau khi nói chuyện với T xong, L nói với P đi cùng L sang nhà của vợ chồng T để nhận hàng.
Khoảng 08 giờ ngày 13/7/2019, P và L cùng nhau đi xe máy hiệu Wave RSX, biển kiểm soát 49P6 – 4398 màu xanh, đến nhà của vợ chồng T, khi cách nhà vợ chồng T khoảng 02 km thì xe máy của P bị h ng nên L nói P ở lại sửa xe, còn L đi bộ một mình vào gặp Song (vợ của T) để nhận ma túy. Khoảng 11 giờ cùng ngày, L quay lại và nói với P đã nhận được hàng (tức là gói ma túy) đang đựng trong chiếc túi đeo ở vai của L. Sau đó, P chở L quay về. Khi đến chân đèo P, L nói P dừng xe lại để L cất gói hàng vào trong cốp xe máy do P đang điều khiển, cả hai đi tiếp đến bìa rừng cách làng Mông khoảng 04 đến 05 km, L nói P dừng xe và lấy gói hàng ma túy từ cốp xe để L giữ, còn P đi gặp Q để kiểm tra tiền, nếu có tiền thì P sẽ nói L mang ma túy ra giao cho Q; Khoảng 05 phút sau, Q đi xe máy (màu xanh dương, kiểu dáng xe Wave, P không nhớ rõ biển kiểm soát) tới gặp P. Khi gặp Q, P h i Q có tiền chưa? Q nói: tiền Q không cầm mà người phụ nữ tên R đang cầm. P nói với Q: ma túy thì L là cậu của T đang giữ nên Q và L đứng ở đây đợi P đi kiểm tra tiền, kiểm tra có tiền thì P sẽ điện thoại cho Q mang hàng (ma túy) ra giao dịch, Q đưa số điện thoại của một người tên R để P liên lạc kiểm tra tiền, khi P đi tới địa điểm người tên R hẹn ở ngã ba đi vào xã Đạ K’Nàng, P thấy R đi xe máy, còn một người đàn ông và một người phụ nữ ngồi ở trên xe ô tô con (P không nhớ rõ đặc điểm của chiếc xe). R nói P lên xe ô tô kiểm tra tiền, khi lên xe P thấy có nhiều tiền nhưng không rõ là bao nhiêu. Lúc này T điện thoại cho P h i có tiền chưa? P nói có tiền rồi, T nói để T điện thoại cho Q mang ma túy đến giao và nói P nhận tiền.
Khoảng hơn 17 giờ chiều cùng ngày, khi P và Q đang chuẩn bị giao dịch đưa gói ma túy cho người ngồi trong xe ô tô thì bị Cơ quan Công an đến khống chế bắt giữ được P, còn Q và những người ngồi trong chiếc xe ô tô chạy thoát. Cơ quan Công an tiến hành mời người chứng kiến, chính quyền địa phương, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Giàng A P, thu giữ, tạm giữ niêm phong gói hàng (theo P khai nhận là ma túy) cùng với đồ vật liên quan, có điểm chỉ xác nhận của P.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) gói hình hộp chữ nhật kích thước khoảng 10cm x 18cm, bên ngoài b c nylon và có quấn băng keo đen, một mặt có vết rách sắc g n dài khoảng 2cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng (P khai là ma túy) được niêm phong trong hộp giấy hình hộp chữ nhật được dán giấy trắng bên ngoài có điểm chỉ của đối tượng P và dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng.
- 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng màu hồng nhạt, mặt sau có dòng chữ ViVo, số IMEI 1: 868993038591415, số IMEI 2: 868993038591407; gắn sim số điện thoại: 0363.977.362, được niêm phong trong chiếc phong bì có điểm chỉ của P.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX-HONDA, màu xanh; biển kiểm soát: 49P6 - 4398; số khung: RLHJC4304AY009205; số máy: JC43E0810036. P khai nhận chiếc xe này do P mượn của người anh trai P tên Giàng A V.
- 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Wave, màu xanh dương; biển kiểm soát: 79N6-0867; số khung đã bị xóa; số máy: VTTJL1P52FMH608455, P khai nhận là xe của Q khi b chạy vứt tại hiện trường. Do chưa xác minh được chủ sở hữu của chiếc xe nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ.
Ngày 13/7/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 113/CSĐT, đối với chất ma túy đã thu giữ và niêm phong của Giàng A P. Phòng Khoa h c kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng có Kết luận giám định số 1018/GĐ-PC09 ngày 17/7/2019, kết luận:
Mẫu cục bột đựng trong một hộp giấy được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 350,9566g (ba trăm năm mươi phẩy chín năm sáu sáu gam), loại Heroine. Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Trong vụ án còn có các đối tượng:
Đối tượng Giàng A T, nhà ở khu Tây Sơn, thôn 1, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (làm ăn buôn bán ở chợ phiên người Mông tại thôn 7, xã Đ, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông) là người thuê P vận chuyển ma túy cho T, Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập, xác minh, truy tìm để làm việc nhưng T không có mặt ở địa phương nên Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục xác minh, củng cố tài liệu chứng cứ, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Đối tượng Giàng Thị S (vợ của Giàng A T), sau khi bắt quả tang Giàng A P, Cơ quan điều tra đã triệu tập làm việc. Qua đấu tranh với Song, Song thừa nhận là có đưa cho P một hộp quà hình chữ nhật vào buổi trưa ngày 13/7/2019 tại nơi bán hàng ở chợ phiên người Mông ở thôn 7, xã Đ, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông theo lời dặn của T, khi đưa hộp quà cho P thì Song không biết bên trong là ma túy. Căn cứ kết quả điều tra xác minh và lời khai nhận của Giàng A P, cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập Giàng Thị S để làm việc nhưng Song không có mặt tại nơi ở, nơi làm ăn sinh sống nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, củng cố tài liệu chứng cứ, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với đối tượng cùng với P vận chuyển gói ma túy (Heroine) để giao cho người mua có tên g i là Hàng A L (Cơ quan điều tra xác minh, xác định L là người dân tộc Mông, cư trú ở: khu Tây Sơn, thôn 1, xã Liêng Srônh, huyện Đ, Lâm Đồng) và đối tượng có tên g i là Q (người giao dịch ma túy với P lời dặn của T), Cơ quan điều tra xác minh, xác định có tên g i là Giàng Seo Q, sinh năm 1997, cư trú tại: Thôn Đơng Glê, xã P, huyện Đ, Lâm Đồng. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập, xác minh, truy tìm để làm việc thì được biết cả 02 đối tượng Hàng A L, Giàng Seo Q không có mặt ở địa phương; Đối với người tên R cùng với người đàn ông, người phụ nữ đi xe ô tô con mà bị can P khai nhận là những người đặt vấn đề giao dịch mua bán ma túy với Giàng Seo Q, Giàng A P, Cơ quan điều tra chưa xác định được nên tiếp tục xác minh, củng cố tài liệu chứng cứ, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Tại Bản Cáo trạng số 04/CT-VKSLĐ-P1 ngày 20 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Giàng A P về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố; đề nghị tuyên bố bị cáo Giàng A P phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án 20 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy đã thu giữ của Giàng A P; Tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu Vivo; Trả lại cho Giàng A V 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX-Honda, biển kiểm soát 49A-4398; Giao cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng 01 xe mô tô hiệu Wave, biển kiểm soát 79N6-0867 để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị: Thống nhất với tội danh của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Về hình phạt: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo thành khẩn khai báo nên đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ khác cho bị cáo như: Vai trò của bị cáo trong vụ án không đáng kể; bị cáo là lao động chính trong gia đình; không biết chữ nên nhận thức pháp luật hạn chế; bị cáo bị bệnh nặng, đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất để sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo, người liên quan không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa bị cáo Giàng A P khai nhận: Sáng ngày 13/7/2019, Giàng A T điện thoại cho Giàng A P, thuê P đến chỗ bán hàng của vợ chồng T ở chợ phiên người Mông tại thôn 7, xã Đ, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông để gặp Giàng Thị S (vợ của T) nhận gói “hàng trắng” tức là ma túy để chuyển cho người có tên g i là Giàng Seo Q ở xã P, huyện Đ, Lâm Đồng và nhận tiền từ Q với số tiền là 190.000.000 đồng mang về cho T; T sẽ trả công cho P số tiền 2.500.000 đồng. Sau khi nhận được gói hàng (ma túy), theo lời dặn của T, P mang ma túy giao cho một người tên Q; khi P đến đoạn đường liên xã thuộc thôn Đạ Mun, xã Đạ K’Nàng, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng để chuẩn bị giao dịch ma túy thì bị Cơ quan Công an bắt giữ, lập biên bản bắt quả tang và thu giữ 350,9566g (ba trăm năm mươi phẩy chín năm sáu sáu gam) Heroine của Giàng A P.
Đối chiếu lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra phù hợp với lời khai tại phiên tòa hôm nay; phù hợp lời khai của người liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định; Hội đồng xét xử có đủ căn cứ tuyên bố bị cáo Giàng A P phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm tr ng, hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội; ma túy là chất gây nghiện, độc hại, gây nguy hại rất lớn đến xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm đặc biệt nghiêm tr ng khác nên pháp luật nghiêm cấm việc mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy... Nhưng do lợi ích của bản thân, để có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, số lượng ma túy bị cáo vận chuyển bị bắt quả tang là rất lớn nên bị cáo phải chịu hình phạt đối với hành vi phạm tội đã thực hiện; cần cách ly bị cáo kh i xã hội một thời gian dài nhằm trừng trị, răn đe giáo dục và phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét bị cáo có nhân thân tốt, có 3 con nh , là lao động chính trong gia đình; bị cáo trình độ h c vấn không có nên nhận thức pháp luật hạn chế; bị cáo còn bị bệnh viêm phổi, suy tim, sơ gan. Tuy nhiên, việc xem xét các tình tiết này không làm thay đổi mức hình phạt đối với bị cáo, do đó xử phạt bị cáo mức án như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng là phù hợp.
Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 phong bì mặt trước có dòng chữ “số 1018/2019/PC09”; “Vụ: Giàng A P - 1994, nơi cư trú: khu Tây Sơn - thôn 1 - X.L - H.Đ, QĐTC: 113/CSĐT, 13/7/2019”, “Hoàn mẫu: 339,9613(g)”. Mặt sau phong bì có chữ ký của Phạm Thị Dung, Phạm Văn Chỉnh, Lại Thanh Anh và hình dấu đ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng;
- 01 phòng bì mặt trước có dòng chữ “Vụ: Giàng A P - 1994, nơi cư trú: khu Tây Sơn - thôn 1 - X.L - H.Đ, QĐTC: 113/CSĐT, 13/7/2019”, “Bao gói vật chứng”. Mặt sau phòng bì có chữ ký của Phạm Thị Dung, Phạm Văn Chỉnh, Lại Thanh Anh và hình dấu đ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng.
- 01 điện thoại di động loại cảm ứng, mặt sau điện thoại có màu hồng nhạt và có dòng chữ ViVo, số IMEI 1: 868993038591415; số IMEI 2: 868993038591407; gắn sim điện thoại: 0363.977.362, bị cáo dùng để liên lạc thực hiện việc vận chuyển trái phép chất ma túy nên tịch thu, sung công quỹ.
- 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, màu xanh dương, biển kiểm soát 79N-0867, số khung đã bị xóa, số máy: VTTJL1P52FMH608455 do chưa xác minh được chủ sở hữu nên giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Lâm Đồng để xử lý theo quy định.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX-Honda, màu xanh; biển kiểm soát: 49P6 - 4398; số khung: RLHJC4304AY009205; số máy: JC43E0810036 bị cáo mượn của anh Giàng A V để vận chuyển trái phép chất ma túy, nhưng anh Vàng không biết bị cáo sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội nên cần trả lại chiếc xe này cho anh Giàng A V là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Giàng A P phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Giàng A P 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/7/2019.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
* Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 phong bì mặt trước có dòng chữ “số 1018/2019/PC09”; “Vụ: Giàng A P - 1994, nơi cư trú: khu Tây Sơn - thôn 1 - X.L - H.Đ, QĐTC: 113/CSĐT, 13/7/2019”, “Hoàn mẫu: 339,9613(g)”. Mặt sau phong bì có chữ ký của Phạm Thị Dung, Phạm Văn Chỉnh, Lại Thanh Anh và hình dấu đ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng;
- 01 phòng bì mặt trước có dòng chữ “Vụ: Giàng A P - 1994, nơi cư trú: khu Tây Sơn - thôn 1 - X.L – H.Đ, QĐTC: 113/CSĐT, 13/7/2019”, “Bao gói vật chứng”. Mặt sau phòng bì có chữ ký của Phạm Thị Dung, Phạm Văn Chỉnh, Lại Thanh Anh và hình dấu đ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng.
* Tịch thu, sung công quỹ: 01 điện thoại di động loại cảm ứng, mặt sau điện thoại có màu hồng nhạt và có dòng chữ ViVo, số IMEI 1: 868993038591415; số IMEI 2: 868993038591407; gắn sim điện thoại: 0363.977.362, bị cáo dùng để liên lạc thực hiện việc vận chuyển trái phép chất ma túy.
Trả cho anh Giàng A V 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX-Honda, màu xanh; biển kiểm soát: 49P6 - 4398; số khung: RLHJC4304AY009205; số máy: JC43E0810036.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/01/2020 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng).
Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, màu xanh dương, biển kiểm soát 79N-0867, số khung đã bị xóa, số máy: VTTJL1P52FMH608455 hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Lâm Đồng đang tạm giữ, do chưa xác minh được chủ sở hữu nên giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Lâm Đồng để xử lý theo quy định.
3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Giàng A P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSNDCC tại Tp HCM (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng PV27 CA Lâm Đồng (01); - Cơ quan CSĐT CA Lâm Đồng (02); - Cơ quan THAHS CA Lâm Đồng (02); - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - Trại tạm giam (02); - Bị cáo (01); - Người phiên dịch (01); - Người liên quan (03); - Phòng KTNV&THA (03); - Lưu Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Duy Hoài |