vanban.org

Bản án 06/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 14/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

 Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạ t: Bị cáo Nguyễn Hồng P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 03 tháng 10 năm 2019. Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì?  Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỐT NỐT
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HS-ST.
Ngày: 14-01-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thái Ánh Trinh

2. Ông Huỳnh Văn Gốc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Điêu Khắc Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 126/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng P, sinh năm 1994; nơi đăng ký thường trú: khu vực A, phường B, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh T (chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1955; chị em ruột: 03 người (lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1996); Tiền án, tiền sự: không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2019 đến nay, tại nhà tạm giữ Công an quận Thốt Nốt.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Bà Dư Thị L, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Khu vực A, phường B, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Hữu T, sinh năm 1989.

Địa chỉ: khu vực A, phường B, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 01 giờ 30 phút, ngày 26/01/2019, Công an phường B tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hồng P về hành vi trộm cắp tài sản (Bút lục 01 – 02).

Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro đã qua sử dụng; 01 túi kẹo sôcôla hiệu Choccoin trọng lượng còn lại là 500gam; 01 áo khoác màu đen, có chữ APPLE NO: 1314 đã qua sử dụng; 01 khẩu trang bằng vải màu trắng – đen – đỏ; 01 túi xách màu trắng có chữ ANH NGỮ ÂU CHÂU đã qua sử dụng (Bút lục 03-04).

Kết luận định giá tài sản số: 13/BKL-HĐĐGTS ngày 13/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro đã qua sử dụng và 01 túi kẹo sôcôla trọng lượng 01 kilogam, có tổng trị giá 2.590.000đồng (Bút lục 50).

Quá trình điều tra P khai nhận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác, khoảng 01 giờ 30 phút ngày 26/01/2019 sau khi đi đến khu Trung tâm thương mại Thốt Nốt khảo sát các tiệm tạp hóa dọc bờ kè Thốt Nốt để tìm tài sản trộm, khi đến tiệm tạp hóa của bà Dư Thị L bị cáo thấy cửa tiệm chỉ được cột bằng dây nilon nên bị cáo quay về nhà lấy 01 cây dao Thái Lan dài khoảng 07cm, có lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán màu xám và 01 túi xách màu trắng, mặt áo khoác đen, bịt khẩu trang đi bộ từ nhà thuộc khu vực A, phường B đến tiệm tạp hóa của bà L, P lấy dao mang theo đang cắt dây định vào bên trong lấy trộm tài sản thì bị lực lượng tuần tra phát hiện bắt giữ. Do sợ bị bắt nên P dùng dao mang theo quơ về phía anh T để tẩu thoát làm anh T bị thương ở khủy tay. Anh T cùng lực lượng tuần tra đuổi theo khống chế bắt giữ được P. Ngoài ra, trước đó vào khoảng 02 giờ ngày 18/01/2019 P đi dọc bờ kè khu Trung tâm thương mại tìm tài sản trộm thì phát hiện cửa tiệm tạp hóa của bà Dư Thị L không khóa nên đã lẻn vào bên trong lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro và 01 túi kẹo sôcôla. Sau đó, P mang gói kẹo về nhà cất giữ dùng dần, còn điện thoại P tháo bỏ sim ném bỏ, chạy lại chương trình rồi lắp đặt sim của P vào máy sử dụng.

Trong quá trình điều tra bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương, cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã, đến ngày 03 tháng 10 năm 2019 thì bắt được P.

Bị hại Dư Thị L xác nhận tài sản bị mất trộm ngày 18/01/2019 gồm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro và 01 túi kẹo sôcôla. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại bà 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro và 01 túi kẹo sôcôla xong. Bà L không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự (BL 51-52; 56; 58-62).

Đối với hành vi gây thương tích cho anh Lê Hữu T của P, do anh T từ chối giám định tỷ lệ thương tích và không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý (Bút lục 55).

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSTN ngày 12 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Hồng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. (Bút lục 105-106)

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá nêu trên.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa có đính chính nội dung cáo trạng tại dòng thứ 05 từ dưới lên trang số 2 nội dung từ “01 túi xách màu trắng, có chữ ANH NGỮ CHÂU ÂU” thành “01 túi xách màu trắng, có chữ ANH NGỮ ÂU CHÂU”, các nội dung khác vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bị cáo Nguyễn Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm I, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo P từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo, do không có việc làm ổn định.

-

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106

Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 cái áo khoác

màu đen, có chữ APPLE NO: 1314 đã qua sử dụng; 01 khẩu trang

bằng vải màu trắng – đen – đỏ; 01 túi xách màu trắng có chữ

ANH NGỮ ÂU CHÂU, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi đã phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng, phấn đấu sống có ích cho xã hội.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c tranh tụng tại phiên tòa, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận Thốt Nốt, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét, trong điều tra đã thu thập được lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai tại Toà. Do đó, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hồng P đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang và kết luận định giá.

Như vậy, có cơ sở xác định ngày 18/01/2019 Nguyễn Hồng P có hành vi lén lút lẻn vào tiệm tạp hoá của bà Dư Thị L lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro và 01 túi kẹo sôcôla qua định giá có giá trị 2.590.000đồng. Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[4] Xét bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng với bản tính lười lao động, mong muốn có tiền để hưởng thụ mà không cần bỏ ra công sức lao động chính đáng nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu của bản thân. Hành vi của bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ; đồng thời còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo còn bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra của cơ quan chức năng. Do vậy, cần dành cho bị cáo mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức xã hội là cần thiết.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000 đồng”. Do hiện nay bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về tính tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến thái độ khai báo của bị cáo trong điều tra và tại phiên tòa có thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm I, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.

[6] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự.

[7] Về xử lý vật chứng: như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro và 01 túi kẹo sôcôla Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại bà Dư Thị L xong, bà L không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không đề cập xử lý là phù hợp.

[9] Đối với hành vi gây thương tích cho anh Lê Hữu T của P, do anh T từ chối giám định tỷ L thương tích và không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không đề cập xử lý là phù hợp.

[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[11] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm I, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạ t: Bị cáo Nguyễn Hồng P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 03 tháng 10 năm 2019.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 cái áo khoác màu đen, có chữ APPLE NO: 1314 đã qua sử dụng; 01 khẩu trang bằng vải màu trắng – đen – đỏ; 01 túi xách màu trắng có chữ ANH NGỮ ÂU CHÂU đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị

Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về

mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí

Tòa án.

Buộc Nguyễn Hồng P phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ