vanban.org

Bản án 06/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 11/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Mạnh H phải nộp 200.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Nguyễn Mạnh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Mạnh H phải nộp 200.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HS-ST
Ngày 11-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga

Bà Phạm Thị Bấm

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 06 tháng 6 năm 1971 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 100/01 đường L, phường T, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Đỗ Thị Nh; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số 88/HSST ngày 08/8/2003, Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 53/HSST ngày 22/7/2011, Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đều đã được xóa án tích); bị bắt tạm giam ngày 16/12/2019; có mặt.

Bị hại: Bà Đào Thị H, sinh năm 1968; nơi cư trú: Số 10/14/89 đường Th, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/10/2019, Nguyễn Mạnh H đi bộ từ chợ Đ đến khu vực trước cửa nhà số 124 đường T, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng thì thấy 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NINJA màu sơn nâu bạc của bà Đào Thị H1, sinh năm 1968, trú tại: Số 10/14/89 đường Th, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng dựng trước cửa, đầu xe quay vào trong nhà, đuôi xe quay ra đường, không có người trông coi. Nguyễn Mạnh H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Nguyễn Mạnh H lại gần quan sát thấy chiếc xe đạp điện không khóa cổ nên cầm vào tay lái xe, gạt chân chống xe rồi đạp xe đi về phía cây xăng trung tâm thành phố. Nguyễn Mạnh H đạp xe được khoảng 50m thì bị người dân bắt giữ, đưa Nguyễn Mạnh H đến Công an phường C, quận N, thành phố Hải Phòng trình báo. Công an phường C, quận N, thành phố Hải Phòng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NINJA màu nâu bạc.

Kết luận định giá tài sản số 49/KN-HĐ ngày 30/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N kết luận: 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NINJA màu sơn nâu bạc đến thời điểm bị xâm hại có giá trị 2.200.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh H khai nhận phù hợp với nội dung trên. Lời khai của bị cáo Nguyễn Mạnh H phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ hiện trường, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, nội dung bản Kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Về dân sự và vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N, thành phố Hải Phòng ra quyết định trả lại 01 xe đạp điện nhãn hiệu NINJA màu nâu bạc cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Đào Thị H1, bà Đào Thị H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 16/01/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Mạnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp với lời khai của bị hại bà Đào Thị H1, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại bà Đào Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, bị hại đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền do bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng.

Về trách nhiệm dân sự: 01 xe đạp điện nhãn hiệu NINJA màu nâu bạc đã được trả lại cho cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Đào Thị H1, bà Đào Thị H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản thu giữ tang vật, tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/10/2019, tại số 124 đường Tr, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Mạnh H có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NINJA màu sơn nâu bạc có trị giá 2.200.000 đồng của bà Đào Thị H1. Tại thời điểm thực hiện hành vi (ngày 29/10/2019), bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân.

- Xét về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Mạnh H có 02 tiền án: Tại Bản án số 88/HSST ngày 08/8/2003, Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 53/HSST ngày 22/7/2011, Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đều đã được xóa án tích), nên cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tài sản bị cáo chiếm đoạt gây thiệt hại không lớn đã được thu hồi trả lại cho bị hại quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều của 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, bắt bị cáo tiếp tục cách ly khỏi xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phát huy tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại bà Đào Thị H1 đã nhận lại tài sản, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Mạnh H 18 (mười tám) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2019.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Mạnh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Nguyễn Mạnh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại bà Đào Thị H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ