vanban.org

Bản án 06/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Tân, tỉnh An Giang Tuyên án 25/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Văn C (Cu Đen) phạm tội Trộm cắp tài sản;

Xử phạt bị cáo Dương Văn C (Cu Đen) 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 09 tháng 12 năm 2019. Buộc bị cáo Dương Văn C phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn C (Cu Đen) phạm tội Trộm cắp tài sản;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 06/2020/HS-ST
Ngày: 25-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sức

2. Ông Dương Văn Lũy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tâm Nhân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết là Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và Tên: Dương Văn C (tự Cu Đen), sinh năm 1987 tại huyện C, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Ấp A, thị trấn B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn Sua, sinh năm 1939 (chết) và bà Nguyễn Thị Hường, sinh năm 1948, anh em ruột có 05 người, bị cáo là người nhỏ nhất.

- Quá trình nhân thân:

+ Từ nhỏ sống chung gia đình, học hết lớp 01 nghỉ.

+ Ngày 06/5/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, xử phạt 02 năm tù về Tội trộm cắp tài sản.

+ Ngày 26/6/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản.

+ Ngày 06/3/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang áp dụng điểm c khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, xử phạt 05 năm tù về Tội trộm cắp tài sản.

+ Ngày 12/2/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, xử phạt 01 năm tù về Tội trộm cắp tài sản.

- Tiền án: 02 lần

+ Ngày 17/02/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, xử phạt 01 năm tù về Tội trộm cắp tài sản.

+ Ngày 28/02/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt 02 năm tù về Tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 04/9/2019.

- Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09 tháng 12 năm 2019 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Bà Dương Thị Kiều H, sinh năm 1983 nơi cư trú: Ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. NLC1 (vắng mặt)

2. NLC2 (vắng mặt)

3. NLC3 (vắng mặt)

4. NLC4 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ ngày 09-12-2019, Dương Văn C có ý định trộm cắp tài sản từ trước, muốn có tiền bằng cách đi lấy trộm đem bán lấy tiền đóng phạt do C vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. C đi bộ cặp bờ kênh Cái Tắc theo hướng Phú Mỹ - Phú Hưng thuộc khu vực thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. C tiếp tục đi vào con hẻm, phát hiện nhà của bà Dương Thị Kiều H không khóa cửa sau nên C đi vào nhà lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Pro của bà H đang được sạc pin trên đầu tủ nhựa tại phòng ngủ. Sau khi C lấy chiếc điện thoại xong, C đi bộ về hướng Phú Mỹ, bị lực lượng tuần tra Công an thị trấn Phú Mỹ kiểm tra trên người của C có 01 chiếc điện thoại nêu trên nhưng C không mở được mật khẩu của máy được. Nghi vấn C lấy trộm tài sản của người khác nên Công an thị trấn Phú Mỹ mời C về trụ sở Công an làm việc. C khai nhận đã lấy trộm chiếc điện thoại này và có 01 tiền án về Tội trộm cắp tài sản.

Kết luận định giá tài sản số 152/KL-TTHS ngày 13 tháng 12 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, hiệu Samsung Galaxy J2 Pro, màu xám, đã qua sử dụng, trị giá 1.300.000 đồng.

Ngày 18/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Phú Tân khởi tố vụ án, bị can và tạm giam Dương Văn C để điều tra, xử lý.

* Lời khai của bị hại bà Dương Thị Kiều H trình bày như nội dung vụ án. Hiện bà H đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường.

* Lời khai của những người làm chứng NLC1, NLC2, NLC3, NLC4, NLC5 trình bày như nội dung vụ án.

Cáo trạng số 06/CT-VKS-PT ngày 04 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố bị cáo Dương Văn C về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân thực hiện quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Dương Văn C mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày 09/12/2019.

Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thuộc thành phần nhân dân lao động nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo, cũng đủ mức giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tại phiên tòa, bị cáo C thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt do có mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, nên không xem xét đến.

Về trách nhiệm hình sự:

Lời khai của bị cáo C phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản số 152/KL-TTHS ngày 13 tháng 12 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ vừa nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 09-12-2019, Dương Văn C (Cu Đen) đã có 02 tiền án về Tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, lại có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động trị giá 1.300.000 đồng của bà H. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố đối với bị cáo C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét về nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì nhận thấy:

Thời điểm phạm tội, bị cáo C có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm do bị cáo thực hiện. Bị cáo nhận thức được việc lấy trộm tài sản của người khác là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân. Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã 06 lần phạm tội Trộm cắp tài sản, đã nhiều lần phải chấp hành hình phạt tù, và lần phạm tội mới nhất vào năm 2018, vừa chấp hành xong hình phạt 02 năm tù vào tháng 09/2019 nhưng bị cáo không sửa đổi mà vẫn tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang, lo lắng cho người dân địa phương, do đó cần có hình phạt nghiêm nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên có xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo C thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại; bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, trình độ học vấn thấp là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo C 06 lần phạm tội Trộm cắp tài sản, có 02 lần chưa được xóa án tích nhưng đây là tình tiết định tội của hành vi trộm cắp lần này nên không coi đây là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nhưng xét bị cáo C không nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung.

Về biện pháp tư pháp: Vật chứng vụ án là điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Pro đã trả lại bà H và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Dương Văn C (Cu Đen) phạm tội Trộm cắp tài sản;

Xử phạt bị cáo Dương Văn C (Cu Đen) 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 09 tháng 12 năm 2019.

Căn cứ vào Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Dương Văn C phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và đương sự trong vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà H vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ