- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H "cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HS-ST Ngày: 19-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Huỳnh Kim Tuấn.
+ Bà Phạm Thị Lệ Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Thành, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Trà Văn Bên - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1991, tại xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi;
Nghề nghiệp: Nông; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn N và bà Đoàn Thị C; Vợ: Chị Phan Thị A;
Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Từ nhỏ sống với gia đình lo ăn học đến lớp 07/12 thì nghỉ ở nhà, phụ giúp gia đình; ngày 07/10/2019 thực hiện hành vi gây thương tích cho anh Nguyễn Đức B; ngày 25/02/2020 bị khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích” và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/02/2020 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Anh Nguyễn Đức B, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
2. Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Huỳnh Ngọc S, sinh ngày 10/8/2002; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của anh Huỳnh Ngọc S: Ông Huỳnh Kim V, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn 6, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
3. Ông Lê Trương Quốc B1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn 2, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
4. Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn 1, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 ngày 07/10/2019, Nguyễn Văn H rủ Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Đức C nhậu tại nhà riêng của H ở thôn 3, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi nhậu hết một thùng bia Dung Quất thì cả ba rủ nhau vào quán P ở thôn X, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi để nhậu tiếp. H điều khiển xe mô tô biển số 76X, còn C và H1 thì sử dụng xe mô tô riêng đến quán P. Khi cả ba đi đến nhà của Nguyễn Hữu Q, tại thôn 1, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi để rủ Q đi cùng thì gặp Nguyễn Đức B (anh của Nguyễn Đức C) và Nguyễn Hữu N đang ngồi nhậu cùng với Q nên rủ cùng đi đến quán P. Cả nhóm đồng ý nên H và C đi ra quán trước, lần lượt B, H1, Q và N đi sau. Trong quá trình nhậu tại quán P, giữa H và B có cãi vã, lời qua tiếng lại với nhau trong việc thu mua cau nên H đứng dậy đi khỏi bàn, lấy xe mô tô biển số 76G1-026.32 đi về nhà, lấy một con dao (loại dao phay có kích thước dài khoảng 30cm, có cán bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 20cm màu đen, nơi rộng nhất 05cm, mũi dao nhọn bầu), kẹp vào ba ga xe mô tô và điều khiển xe quay lại quán nhậu P. Khi đến nơi, H bỏ xe ngã xuống đất, tay phải cầm dao đi vào bàn nhậu nơi C, B và những người khác đang nhậu. Lúc này, C đứng lên đi đến chỗ H thì giữa H và C có giằng co qua lại, H dùng dao chém về phía người C nên C lui lại tránh. Thấy vậy, B đứng dậy cầm vỏ chai bia Tiger đập trúng đầu H, làm H lui ngã về sau. Khi H ngã thì C cầm ghế ngồi trong quán xông đến đập vào người H nhưng không trúng, H tiếp tục đứng lên thì B xông tới nên H vung dao chém theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào người B, B đưa tay lên đỡ. H lùi lại thì B tiếp tục xáp vào H nên H vung dao chém tiếp về phía B. Hậu quả, B bị thương tích ở tay trái, cổ bên trái và rách da tai trái. Lúc này, Nguyễn Văn H1 chạy đến ngăn H lại thì C cầm ghế xông đến đập trúng vào lưng H nên H quay người bỏ chạy. Khi H chạy đến cây xăng B ở phía Bắc quán P thì C cầm ghế đuổi theo phía sau, còn B thì dừng lại ở đoạn đường bê tông phía Nam cây xăng BA. Thấy có người đuổi theo nên H chạy thẳng qua cây xăng BA, chạy được một đoạn H quay lại nhìn thì không thấy ai đuổi theo; H chạy thêm một đoạn nữa rồi vứt con dao ở khu vực phía Tây đường Quốc lộ IA, sau đó đi về nhà. Về phần B và C bị thương tích nên được đưa đến Trung tâm y tế huyện M cấp cứu, sau đó được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi điều trị.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 200/TgT ngày 18/10/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Quảng Ngãi, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức B là 14%, tổn thương phù hợp với vật sắc gây thương tích.
Đối với thương tích của anh Nguyễn Đức C: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộ Đức đã tiến hành xác minh, mời làm việc nhưng anh C không hợp tác để xác minh làm rõ vụ án. Ngày 25/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộ Đức có Quyết định trưng cầu giám định đối với thương tích của anh Nguyễn Đức C nhưng anh C không chấp hành, bỏ đi khỏi địa phương. Đến ngày 07/02/2020, anh C có đơn bãi nại, từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu gì đối với vụ án.
Tại Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 21/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 đến 18 tháng tù.
- Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn H và gia đình đã bồi thường cho anh Nguyễn Đức B số tiền 10.000.000đồng; anh B đã nhận tiền và không yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) mảnh vỡ hình trụ tròn, dài 9,5cm, đường kính 3,5cm (đầu chai bia) phía trên có dòng chữ Tiger.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, những người làm chứng Huỳnh Ngọc S, Nguyễn Văn H1, Lê Trương Quốc B1 và Nguyễn Hữu Q vắng mặt, nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra. Việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức đã truy tố. Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng; phù hợp với bệnh án của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Ngày 07/10/2019, tại quán nhậu P, thuộc thôn X, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo Nguyễn Văn H có hành vi dùng hung khí (dao phay) chém nhiều cái vào người anh Nguyễn Đức B và anh Nguyễn Đức C, làm cho anh B bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%. Riêng anh C từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu gì đối với vụ án nên không có cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh C.
Tại thời điểm bị cáo Nguyễn Văn H dùng hung khí gây thương tích cho anh Nguyễn Đức B thì bị cáo H có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; bị cáo nhận thức được hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Mặc dù bị cáo Nguyễn Văn H chỉ gây thương tích cho anh Nguyễn Đức B với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%, nhưng do bị cáo dùng dao phay, là hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho anh B nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ hung hãn, coi thường pháp luật; hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc và cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cũng như để phòng ngừa chung tội phạm.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường cho người bị hại 10.000.000đồng; trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi; tại phiên tòa, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo khi quyết định hình phạt. Ngoài ra, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Đối với thương tích của anh Nguyễn Đức C: Mặc dù anh Nguyễn Đức C bị Nguyễn Văn H dùng dao chém nhưng anh C có đơn xin bãi nại, từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu gì đối với vụ án. Vì vậy, không có cơ sở để xem xét, giải quyết đối với thương tích của anh Nguyễn Đức C trong vụ án này.
Đối với hành vi của anh Nguyễn Đức B dùng vỏ chai bia đánh bị cáo Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Đức C dùng ghế đánh bị cáo Nguyễn Văn H. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H và bị hại Nguyễn Đức B, Nguyễn Đức C đều xác nhận anh Nguyễn Đức B có dùng vỏ chai bia và anh Nguyễn Đức C có dùng ghế đánh bị cáo Nguyễn Văn H. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận bị cáo chỉ bị bầm da, không có thương tích gì; bị cáo không yêu cầu khởi tố đối với anh B và anh C, cũng không yêu cầu anh B, anh C bồi thường nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộ Đức không xem xét, xử lý đối với anh B và anh C là phù hợp.
Về dân sự:
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn H và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức B 10.000.000đồng, anh B đã có đơn bãi nại, không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 con dao phay có kích thước dài khoảng 30cm, có cán bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 20cm màu đen mà bị cáo Nguyễn Văn H đã sử dụng để gây thương tích cho Nguyễn Đức B. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộ Đức đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không tìm thấy nên không xem xét xử lý.
- Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 76G1-026.32 mà H đã sử dụng để đi đến quán P gây thương tích cho anh Nguyễn Đức B. Đây không phải là phương tiện phạm tội. Theo các tài liệu thu thập được có căn cứ xác định xe mô tô trên là của ông Nguyễn Văn T (chú ruột của bị cáo H) cho bị cáo mượn để sử dụng làm phương tiện đi lại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộ Đức đã trả lại xe mô tô trên cho ông T là phù hợp, đúng pháp luật.
- Đối với 01 (một) mảnh vỡ hình trụ tròn, dài 9,5cm, đường kính 3,5cm (đầu chai bia) phía trên có dòng chữ Tiger. Đây là công cụ Nguyễn Đức B dùng để đánh bị cáo Nguyễn Văn H, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về căn cứ truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mảnh vỡ hình trụ tròn, dài 9,5cm, đường kính 3,5cm (đầu chai bia) phía trên có dòng chữ Tiger (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộ Đức và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mộ Đức).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Mộ Đức; - CQCSĐT Công an huyện Mộ Đức; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mộ Đức; - Phòng NVLT Công an huyện Mộ Đức; - Chi Cục THADS huyện Mộ Đức; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Phong |