- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản bị cáo Nguyễn Văn X - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nguyễn Văn X 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 12 tháng 11 năm 2019.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HS-ST Ngày 18-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Kho
Bà Lương Thị Ngân
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Phong - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn X, sinh ngày 19 tháng 4 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Phạm Thị N, sinh năm 1965; bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Bích N1 (chưa đăng ký kết hôn) và có 01 con chung là Nguyễn Văn Dũng , sinh năm 2015, chị Ngọc đã mang con về huyện Tiên Lãng ở ; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 12 tháng 11 năm 2019 đến ngày 14 tháng 11 năm 2019 chuyển tạm giam; có mặt.
- Bị hại: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn S đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại nhà chòi trông đầm ở khu vực cánh đồng cói gần sông V thuộc thôn Đ, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng của gia đình anh Vũ Văn T, sinh năm 1975, trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện K, Nguyễn Văn X, sinh năm 1994, cùng trú tại: Thôn Đ, xã T có hành vi trộm cắp 01 áo khác nam dài tay màu đen, 01 quần lửng nam màu vàng mặc vào người, lấy 01 mũ bảo hiểm màu trắng, trên vành mũ có dòng chữ “SAMNEC” đội lên đầu X và khi X đang dắt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu S đỏ đen, BKS 15F1-135.04 đều là tài sản của anh T đi theo hướng đi ra ngõ của nhà chòi thì bị anh T phát hiện, bắt quả tang. Ngay lúc đó, anh T hô "... Trộm ..." và có anh H cùng vợ là chị P, anh S là những người làm nghề đánh cá trên sông, đang ngủ trên thuyền neo đậu ở gần nhà chòi trông đầm của nhà anh T chạy đến bắt giữ, trói X vào cột nhà chòi. Anh T gọi điện thoại báo Công an xã T, huyện K đến làm việc và giao nộp X cùng vật chứng cho Công an xã giải quyết.
Vật chứng thu giữ:
- Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 12 tháng 11 năm 2019 và ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Hội đồng định giá huyện K, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu S đỏ đen, BKS 15F1-13504 đã qua sử dụng, có giá trị 4.500.000 đồng; 01 áo khác nam dài tay màu đen, có giá trị: 100.000 đồng; 01 quần lửng nam màu vàng, có giá trị: 50.000 đồng; 01 mũ bảo hiểm màu trắng, trên vành mũ có dòng chữ “SAMNEC”, có giá trị: 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản: 4.700.000 đồng. Qua xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Vũ Văn T, anh T không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
- 01 con dao phay bằng kim loại màu đen của Nguyễn Văn X (dao dài 37 cm, cán dao làm bằng gỗ dài 10 cm, bản rộng nhất của dao 6,5 cm) đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Tại Cơ quan điều tra, bị hại là anh Vũ Văn T khai: Sau khi đi tuần một vòng quanh khu vực đầm của gia đình đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11 tháng 11 năm 2019, anh T về nằm ngủ trên giường trong nhà chòi trông đầm ở khu vực cánh đồng cói gần sông Văn Úc thuộc thôn Đ, xã T, huyện K. Đến khoảng gần 24 giờ cùng ngày, khi nghe tiếng chó sủa nhiều nên anh tỉnh giấc thì thấy có một người đàn ông đi vòng quanh trong nhà chòi như tìm đồ vật nên biết là đối tượng trộm cắp nhưng do trời tối, chòi không bật đèn nên không biết người này là ai, đang làm gì trong chòi nhà anh. Khoảng 02 phút sau, người đó đi ra ngoài nhà chòi, anh T cũng ra khỏi giường đi theo phía sau và thấy người đó đang mặc quần lửng, áo khoác của anh, đầu đội mũ bảo hiểm của anh và đang dắt xe mô tô Honda Wave, màu S đỏ đen, BKS 15F1-13504 anh mua lại của anh Vũ Văn Thi, sinh năm 1973 ở thôn Kỳ S, xã T, huyện K từ năm 2014 với giá khoảng 10.000.000 đồng, anh không nhớ chính xác số tiền đã mua xe. Khi thấy đối tượng trộm cắp tài sản của mình, anh T đi vào khu vực bếp lấy một con dao để phòng thân và quay ra thì thấy người đó đã dắt xe từ vị trí anh để xe ở gốc cây vú sữa ra đến hiên nhà cách cây vú sữa khoảng 10 mét. Anh T tiến lại gần phía sau lưng người đó và hô "Đ mẹ mày, đứng yên không tao chém chết". Đối tượng quỳ xuống nói "Cháu xin chú, chú tha cho cháu". Anh T bật công tắc đèn và hô "H ơi, H ơi trộm". Ngay lúc đó, có anh H cùng vợ là chị P, anh S là những người làm nghề đánh cá trên sông, đang ngủ trên thuyền neo đậu ở gần nhà chòi trông đầm của nhà anh T chạy đến cùng anh khống chế, giữ đối tượng lại. Khi đèn sáng anh T mới nhìn thấy trên võng xe của anh có dắt một con dao phay, sau này mới biết là dao của đối tượng mang theo. Sau khi mọi người trói được đối tượng vào cột, anh T gọi điện thoại báo Công an xã T đến làm việc và giao đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Công an để giải quyết anh mới biết đối tượng trộm cắp tài sản của anh tên là X nhà ở cùng thôn Đ, xã T, huyện K. Anh T đã nhận lại đầy đủ các tài sản và không yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Tại Cơ quan điều tra, những người làm chứng là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn S đều khai: Phù hợp với các lời khai của bị cáo, bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 05/CT-VKSKT ngày 09 tháng 01 năm 2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện K truy tố Nguyễn Văn X về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận tội: Khoảng 21 giờ ngày 11 tháng 11 năm 2019, Nguyễn Văn X cầm theo một con dao phay (dài 37 cm, cán dao bằng gỗ dài 10 cm, bản rộng nhất của dao 6,5 cm) đi bộ từ nhà lên đê ở khu vực cánh đồng cói gần sông Văn Úc thuộc thôn Đ, xã T, huyện K với mục đích tìm chỗ có lưới bẫy chim để cắt trộm lưới mang về bẫy chim. Sau khi đi một vòng rìa bờ sông, X không thấy có lưới bẫy chim nên đi về, do quần áo bị ướt nên X cởi áo và quần đùi vứt xuống sông, trên người chỉ còn mặc một quần lót. X nhìn thấy một nhà chòi, sau này mới biết đó là nhà chòi trông đầm của anh T, không có cánh cổng, cửa nhà chòi mở nên X đi thẳng vào trong khu vực nhà chòi gọi nhưng không thấy ai trả lời. X tiếp tục đi vào bên trong, thấy trong nhà chòi có kê hai chiếc giường, trong đó có một giường đang mắc màn. X tiến sát gần giường có mắc màn, nhìn vào phía trong xem có ai không. Do trời tối, trong chòi không bật đèn nên X không xác định được có người ngủ bên trong hay không. X quay ra phía cửa nhà chòi nhìn ra sông thì thấy có quần, áo treo ở mắc trên tường vách ngăn của nhà chòi. X lấy một chiếc quần lửng nam màu vàng, một áo khoác nam dài tay màu đen mặc vào người. Sau đó, X thấy có 01 xe mô tô Honda Wave, màu S đỏ đen, BKS: 15F1-135.04 dựng ở vị trí gốc cây Vú Sữa trong khuôn viên nhà chòi, X đi lại gần xe thấy không có chìa khóa ở ổ khóa điện của xe và trên xe có treo một mũ bảo hiểm. X lấy mũ bảo hiểm đội lên đầu, do xe quay đầu vào phía trong nên X dùng tay quay ngược đầu xe lại, rồi dắt xe mô tô đi thẳng ra ngõ nhà chòi, khi đang dắt xe khỏi vị trí để xe ban đầu được khoảng 10 mét thì bị anh Vũ Văn T phát hiện, truy hô "... trộm, ...". Ngay sau đó, bị cáo bị anh T cùng 03 người khác khống chế, bắt giữ và giao nộp cùng vật chứng cho Công an xã T giải quyết.
Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K trình bày lời luận tội, quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn X mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
- Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu hồi, trả lại đầy đủ tài sản bị chiếm đoạt cho bị hại, nên không đặt ra xem xét.
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao phay bằng kim loại màu đen của Nguyễn Văn X (dao dài 37 cm, cán dao làm bằng gỗ dài 10 cm, bản rộng nhất của dao 6,5 cm) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 01 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng.
- Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi, trả lại đầy đủ cho bị hại là anh T. Nay bị hại không yêu cầu, đề nghị gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, các kết luận định giá tài sản, kết luận giám định, phiếu trả lời xác minh P tiện giao thông đường bộ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại nhà chòi trông đầm ở khu vực cánh đồng cói gần sông V thuộc thôn Đ, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng của gia đình anh Vũ Văn T, Nguyễn Văn X sinh năm 1975, cùng trú tại: Thôn Đ, xã T đã có hành vi trộm cắp các tài sản của anh T gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, BKS 15F1-135.04 có giá trị 4.500.000 đồng, 01 áo khác nam dài tay màu đen có giá trị 100.000 đồng, 01 quần lửng nam màu vàng có giá trị 50.000 đồng và 01 mũ bảo hiểm màu trắng, trên vành mũ có dòng chữ “SAMNEC” có giá trị 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 4.700.000 đồng (bốn triệu, bảy trăm nghìn đồng). Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn X có đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất của vụ án: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo, đồng thời để phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao phay bằng kim loại màu đen của Nguyễn Văn X theo biên bản giao nhật vật chứng ngày 09 tháng 01 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi, trả lại đầy đủ cho bị hại là anh T. Nay bị hại không yêu cầu, đề nghị gì khác nên không đặt ra trách nhiệm đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Nguyễn Văn X 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 12 tháng 11 năm 2019.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao phay bằng kim loại màu đen của Nguyễn Văn X theo biên bản giao nhật vật chứng ngày 09 tháng 01 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Anh Vũ Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - VKSND huyện K, HP; - Công an huyện K + PV 06; - THA phạt tù + PC 10; - Chi cục THADS huyện + Sở TP; - Bị cáo; bị hại; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Hoàng |