- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Tiên - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T (tên gọi khác: T1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HS-ST Ngày: 27/4/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vương Thị Thanh.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thông;
2. Bà Nguyễn Thị Lân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hà.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà tham gia phiên tòa: Ông Dương Tiến Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2020 đối với:
1. Bị cáo: Đỗ Văn T – Tên gọi khác: T1. Sinh ngày 21/9/1984 tại Vân Đồn, Quảng Ninh. Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ1, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Ngư nghiệp; Trình độ học vấn: 7/12. Con ông: Đỗ Văn T2 (đã chết) và bà: Lê Thị L. Vợ: Trần Thị C (đã ly hôn); Con: có 01 con. Tiền án: Ngày 27/3/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tháng 10/2010 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, chưa chấp hành xong khoản tiền bồi thường dân sự 73.550.000 đồng. Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 31/12/2019, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hải Hà. Có mặt tại phiên tòa.
2. Người bị hại: Anh Đinh Như H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn 3, xã Q, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
3. Người làm chứng: Anh Hoàng Thế P, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Thôn 3, xã Q, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
4. Người chứng kiến: Anh Phạm Hồng Q1, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Thôn 2, xã Q, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 30/12/2019, Đỗ Văn T đến cửa hàng tạp hóa nhà anh Đinh Như H ở thôn 3, xã Q, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh để mua thẻ điện thoại, khi chủ quán mở hòm tôn lấy thẻ điện thoại để bán, T phát hiện trong hòm tôn có tiền và thẻ điện thoại nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/12/2019, T quay lại cửa hàng nhà anh H thấy không có người trông coi, T đi vòng ra phía sau nhà thấy cửa sổ không đóng, T đã trèo qua cửa sổ vào trong nhà đi đến vị trí để hòm tôn trong gian bán hàng (hòm tôn không khóa), T mở hòm lấy số tiền 5.567.000 đồng và 50 chiếc thẻ cào điện thoại Viettel mệnh giá 20.000 đồng/01 thẻ; 10 chiếc thẻ cào điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng/01 thẻ (toàn bộ số thẻ đều chưa sử dụng) cho vào túi quần rồi đi theo lối cửa sổ sau nhà để tẩu thoát thì bị anh H phát hiện cùng một số người dân truy đuổi đến gần nhà văn hóa thôn 2, xã Q thì bắt được T cùng toàn bộ vật chứng.
Tại cơ quan điều tra, Đỗ Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên (Bút lục số 57, 61).
Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Văn T khai: Ngày 30/12/2019, bị cáo vào cửa hàng tạp hóa H Phương ở thôn 3, xã Q, huyện Hải Hà mua thẻ điện thoại, bị cáo quan sát thấy chủ quán mở hòm tôn lấy thẻ bán thì bên trong có tiền và thẻ điện thoại, bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp số tiền và thẻ trong hòm tôn. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/12/2019, bị cáo quay lại quán HP, không nhìn thấy ai trông coi, bị cáo đi ra phía sau thấy cửa sổ không đóng, bị cáo trèo cửa vào nhà, đi đến khu vực hòm tôn, thấy hòm tôn không khóa, bị cáo lấy trộm một số tiền và thẻ cào điện thoại cho vào túi quần rồi đi theo đường cửa sau bỏ chạy. Tuy nhiên, ngay lúc đó chủ nhà phát hiện và đuổi theo bắt quả tang bị cáo, đưa về trụ sở Công an làm việc.
Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì nghiện ma túy, không có tiền tiêu xài nên đã liều lĩnh trộm cắp tài sản, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại Đinh Như H có mặt tại phiên tòa khai: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/12/2019, anh đang đánh bi a trước cửa nhà cùng anh Hoàng Thế P thì nghe vợ anh gọi có người mặc áo xanh vừa lấy trộm tiền và thẻ điện thoại nhà mình. Anh cùng anh P đuổi theo bắt quả tang bị cáo giấu tiền và thẻ điện thoại lấy trộm được trong túi quần. Anh liền báo Công an tới lập biên bản về hành vi phạm tội của T.
Người làm chứng Hoàng Thế P và người chứng kiến Phạm Hồng Q1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo và người bị hại về thời gian, địa điểm, diễn biến sự việc.
Tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Hải Hà lập hồi 10 giờ 30 phút ngày 31/12/2019 thể hiện: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/12/2019, anh Đinh Như H và Hoàng Thế P phát hiện, bắt quả tang Đỗ Văn T lén lút vào cửa hàng tạp hóa HP lấy trộm 5.567.000 đồng, 50 thẻ cào điện thoại mệnh giá 20.000 đồng, 10 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, kết quả phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại và những người làm chứng, chứng kiến sự việc.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSHH ngày 18/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà truy tố Đỗ Văn T về tội: "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Đỗ Văn T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/12/2019.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình cơ bản phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/12/2019, Đỗ Văn T đã có hành vi lén lút vào cửa hàng tạp hóa của gia đình anh Đinh Như H ở thôn 3, xã Q, huyện Hải Hà chiếm đoạt tiền và tài sản, tổng trị giá 7.067.000 đồng, bị bắt quả tang.
Bị cáo lợi dụng lúc cửa hàng tạp hóa không có người trông coi, đã lén lút đột nhập vào nhà từ cửa sau, trộm cắp tiền và thẻ điện thoại tổng trị giá 7.067.000 đồng. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, mặc dù đã từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội, trộm cắp tài sản nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, cần xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, ngày 27/3/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tháng 10/2010 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, nhưng chưa chấp hành xong khoản tiền bồi thường dân sự 73.550.000 đồng nên chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ: Tổng số tiền 5.567.000 đồng, 50 chiếc thẻ cào điện thoại Viettel mệnh giá 20.000 đồng/01 thẻ, 10 chiếc thẻ cào điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng/01 thẻ. Tất cả vật chứng nói trên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đinh Như H, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Đinh Như H nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T (tên gọi khác: T1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Đỗ Văn T (T1) 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2019.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về chế độ thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Đỗ Văn T (Tuyên) phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo Đỗ Văn T (T), người bị hại Đinh Như H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Công an huyện Hải Hà; - Thi hành án huyện Hải Hà; Sở tư pháp; - Bị cáo; Trại tạm giam Công an tỉnh QN; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thị Thanh |