vanban.org

Bản án 06/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 20/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H (H La Hán, BM) phạm tội “Trộm cắp

Xử phạt: Trần Văn H: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù c a bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đối với bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn H (H La Hán, BM) phạm tội “Trộm cắp
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 06/2020/HS-ST
Ngày 20 / 02 / 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Tâm;

Bà Hoàng Thị Thiện Lai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩmcông khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2020/TLST-HS ngày 07 tháng

01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày

31 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Văn H (H La Hán, BM), sinh năm1986, tại huyện C, tỉnh An Giang;

nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề

nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam;

tôn giáo: đạo Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1 (đã chết) và

bà Võ Thị T4; chưa có vợ, con;

Tiền án: chưa;

Tiền sự: Ngày 15/12/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới áp dụng

biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn 16

tháng; chấp hành xong ngày 02/01/2019.

Bị tạm giữ từ ngày 28/11/2019 đến ngày 04/12/2019 chuyển tạm giam

cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng Anh K, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp L, xã

L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Văng Hòa T, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp L, xã K, huyện C, tỉnh

An Giang; vắng mặt.

+ Bà Trần Thị D, sinh năm 1976; nơi cư trú: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An

Giang; vắng mặt.

+ Ông Văng Văn P, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp L, xã K, huyện C, tỉnh

An Giang; vắng mặt.

+ Ông Tô Văn T1, sinh năm 2000; nơi cư trú: ấp L, xã K, huyện C, tỉnh

An Giang; vắng mặt.

+ Ông La Phương N, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh

An Giang; vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1993; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện

C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Võ Thanh P1; vắng mặt.

+ Ông Phan Văn M; vắng mặt.

+ Ông Võ Văn T3; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, nên Trần Văn H nảy sinh ý định lấy trộm tài sản

c a người khác. Để thực hiện, H mượn dụng cụ khò lửa b ng gas c a Văng Văn P (H không nói cho P biết làm công cụ trộm cắp tài sản). Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 27/11/2019, sau khi chơi game, H đi đến khu vực bên ngoài cửa hàng điện thoại di động “Anh Kiệt” c a Nguyễn Hoàng Anh K ở ấp T, thị trấn M quan sát, đến khoảng 05 giờ cùng ngày thấy Phan Văn M (người ng giữ cửa hàng điện thoại di động “Anh Kiệt”), điều khiển xe đi kh i cửa hàng. H về nhà mặc áo mưa, trùm áo thun lên đầu để che mặt và mang dụng cụ khò lửa b ng gas đi đến bên hông cửa hàng, dùng khò lửa b ng gas khò vào khóa cửa sắt để mở khóa vào bên trong lấy trộm các phụ kiện điện thoại di động gồm 02 tai nghe hiệu OPPO, 07 cốc sạc hiệu OPPO, 07 cáp sạc hiệu OPPO, 03 sạc dự phòng hiệu TEKIN, 04 sạc dự phòng hiệu HOCO, 03 sạc dự phòng hiệu MICROCOM, chưa qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F3, 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG A520, 01 điện thoại di động hiệu NOKIA 630, 01 máy tính bảng hiệu HUAWEI S8 - 701, đã qua sử dụng. Huy mang các tài sản lấy trộm được gặp Châu Văn C (người chạy xe honda đò, H không nói cho C biết việc lấy trộm tài sản), thuê chở đến quán nước giải khát “Chiều Tím” ở ấp H, xã K để bán cho La Phương N nhưng N không mua, H cho N 01 sạc dự phòng hiệu HOCO, rồi tiếp tục mang đến nhà Tô Văn T1 bán cho Văng Hòa T 01 điện thoại di động

hiệu SAMSUNG A520, 01 máy tính bảng hiệu HUAWEI S8 - 701 và 01 điện

thoại di động hiệu OPPO F3 với giá 1.700.000 đồng; cho T 03 sạc dự phòng hiệu

MICROCOM, 02 sạc dự phòng hiệu HOCO, 02 sạc dự phòng hiệu TEKIN, 06

cốc sạc hiệu OPPO, 07 cáp sạc hiệu OPPO và cho T 01 điện thoại di động hiệu

NOKIA 630. Sau khi bị mất trộm tài sản, K trình báo cơ quan Công an. Khoảng

12 giờ ngày 28/11/2019, H biết tin lấy trộm tài sản bị phát hiện, nên đến Công an

huyện C đầu thú.

- Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: Thu giữ 01 tai nghe hiệu OPPO,

06 cốc sạc hiệu OPPO, 07 cáp sạc hiệu OPPO, 02 sạc dự phòng hiệu TEKIN, 03

sạc dự phòng hiệu HOCO, 03 sạc dự phòng hiệu MICROCOM, 01 điện thoại di

động hiệu OPPO F3, 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG A520, 01 điện thoại

di động hiệu NOKIA 630, 01 máy tính bảng hiệu HUAWEI S8 - 701, 01 hộp

giấy có chữ OPPO A5S, 02 hộp giấy có chữ OPPO A5 2020, 01 hộp giấy có chữ

OPPO A9 2020, 01 hộp giấy có chữ OPPO A1K 2020, 01 hộp giấy có chữ

OPPO Reno 2, 01 hộp giấy có chữ HUAWEI Y3 2017 và 01 hộp giấy có chữ

HONOR 7S, hiện đã trao trả cho Nguyễn Hoàng Anh K; 01 dụng cụ khò lửa

b ng gas, 01 khóa hiệu KINbar ALARM LOCK, hiện còn đang tạm giữ để

xử lý.

- Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐĐG ngày 04/12/2019 c a

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C: Tất cả tài sản mà bị cáo

chiếm đoạt c a ông Nguyễn Hoàng Anh K có t ng giá trị 5.150.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới khởi tố, tạm giam H

để điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 07 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát

nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài

sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đ i, b sung

năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng

truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội c a Kiểm sát viên, xin

Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội c a bị cáo tại phiên tòa

phù hợp với lời khai c a bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu,

chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân

dân huyện Chợ Mới truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều

173 Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi c a bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu c a công dân được

pháp luật hình sự bảo vệ. Bên cạnh đó, bị cáo đang có tiền sự khi phạm tội. Cho

nên, đề nghị xử phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội c a bị cáo, giúp

bị cáo trở thành công dân có ích.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành

khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đầu thú. Vì vậy, đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản

1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Về hình phạt b sung, do bị cáo không có tài sản, không nghề nghiệp nên

đề nghị không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự, do bị hại không yêu cầu bồi thường nên đề nghị

không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2

Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu h y 01 bộ dụng cụ khò lửa, 01 khóa do không còn giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Mới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, th tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định c a pháp luật.

Về hành vi bị truy tố c a bị cáo, bị cáo Trần Văn H khai nhận, do nảy

sinh ý định lấy trộm tài sản c a người khác nên bị cáo mượn dụng cụ khò lửa b ng gas c a ông Văng Văn P. Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 27/11/2019, bị cáo đến cửa hàng điện thoại di động Anh Kiệt quan sát. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, thấy người ng giữ điều khiển xe đi kh i cửa hàng, bị cáo về nhà mặc áo mưa, trùm áo thun lên đầu để che mặt đi đến bên hông cửa hàng và dùng dụng cụ khò lửa mở khóa vào bên trong lấy trộm các phụ kiện điện thoại di động tai nghe, cốc sạc, cáp sạc, sạc dự phòng với số lượng, nhãn hiệu như Cáo trạng thể hiện; 03 điện thoại di động hiệu OPPO, SAMSUNG, NOKIA và 01 máy tính bảng. Sau đó, bị cáo thuê ông Châu Văn C chở đến quán nước giải khát “Chiều Tím” để bán cho ông La Phương N nhưng ông N không mua. Bị cáo cho ông N 01 sạc dự phòng rồi tiếp tục mang tài sản chiếm đoạt đến nhà ông Tô Văn T1. Tại đây, bị cáo bán cho ông Văng Hòa T 02 điện thoại di động hiệu SAMSUNG, OPPO, 01 máy tính bảng với giá 1.700.000 đồng; cho ông T các phụ kiện điện

thoại di động còn lại; cho T 01 điện thoại di động NOKIA. Khoảng 12 giờ ngày

28/11/2019, khi biết việc lấy trộm tài sản bị phát hiện, bị cáo đến Công an

đầu thú.

Lời khai c a bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai c a bị cáo ở giai

đoạn điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản khám

nghiệm hiện trường ngày 28/11/2019 cùng sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện

trường kèm theo do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới lập; lời

khai c a ông Nguyễn Hoàng Anh K, bà Nguyễn Thị Thùy T2 về việc cửa hàng

điện thoại di động Anh Kiệt (là tài sản riêng c a ông K) bị mất trộm tài sản vào

ngày 27/11/2019. Ông K đã nhận lại phần lớn tài sản bị chiếm đoạt, còn mất 01

tai nghe hiệu OPPO, 01 cốc sạc hiệu OPPO, 01 sạc dự phòng hiệu TEKIN và 01

sạc dự phòng hiệu HOCO; lời khai c a ông Phan Văn M về việc có ng giữ cửa

hàng điện thoại di động Anh Kiệt đến khoảng 5 giờ ngày 27/11/2019 mới ra về;

lời khai c a các ông Võ Thanh P1 và Võ Văn T3 về việc phát hiện dưới nền

gạch tại hông cửa hàng điện thoại di động Anh Kiệt có 01 dụng cụ khò lửa và 01

khóa bị h ng, nghi ngờ có trộm nên cho K biết. Khi ông K đến kiểm tra phát

hiện bị mất trộm tài sản; lời khai c a ông Văng Hòa T về việc có mua c a bị cáo

02 điện thoại di động hiệu SAMSUNG, OPPO, 01 máy tính bảng với giá

1.700.000 đồng và được bị cáo cho một số phụ kiện điện thoại di động gồm sạc

dự phòng, cốc sạc, cáp sạc; lời khai c a ông Tô Văn T1 về việc được bị cáo cho

01 điện thoại di động NOKIA; lời khai c a ông La Phương N về việc được bị

cáo cho 01 sạc dự phòng hiệu HOCO; lời khai c a bà Trần Thị D về việc có cho

bị cáo mượn 50.000 đồng trả tiền xe honda đò; lời khai c a ông Văng Văn P về

việc có cho bị cáo mượn dụng cụ khò lửa b ng gas.

Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định, khi phát hiện ch sở hữu sơ hở

trong việc bảo quản tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản c a ông K.

Theo Kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐĐG ngày 04/12/2019 c a Hội

đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tài sản bị chiếm đoạt có

t ng giá trị 5.150.000 đồng.

Bị cáo là người có đầy đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ

hành vi chiếm đoạt tài sản c a ông Kiệt là xâm phạm quyền sở hữu c a người

khác nhưng vẫn cố ý thực hiện thông qua việc lợi dụng lúc tài sản không có

người trông giữ, nhanh chóng mang tài sản đi nơi khác tiêu thụ, không nói rõ

nguồn gốc tài sản khi tiêu thụ và sự thừa nhận c a bị cáo tại phiên tòa. Vì vậy,

hành vi c a bị cáo đã đ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định

tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đ i, b sung

năm 2017.

Cho nên, Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố bị

cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội c a đại diện Viện kiểm sát nhân

dân huyện Chợ Mới tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp

với quy định c a pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, quyền sở hữu là

một trong những quyền thiêng liêng gắn với mỗi cá nhân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong lĩnh vực luật hình sự, những ai xâm phạm đến quyền sở hữu c a người khác, đáp ứng quy định c a pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.

Bị cáo là người đang ở tu i lao động. Đáng lẽ, bị cáo phải tìm cho mình

một công việc phù hợp để nuôi sống bản thân, gia đình nhưng vì hám lợi, bị cáo trộm cắp tài sản c a người khác. Hành vi c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu c a người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang cho những người dân sống xung quanh nơi xảy ra sự việc. Bên cạnh đó, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đang có tiền sự do bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 16 tháng vào ngày 15/12/2017; chấp hành xong ngày 02/01/2019. Điều này thể hiện bị cáo có nhân thân không tốt. Do đó, cần có hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội c a bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra

cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã t rõ thái độ thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt b sung, do bị cáo không có nghề nghiệp, thuộc thành

phần lao động nghèo nên không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm c a người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Văng Văn P đã có hành vi cho bị cáo mượn dụng cụ khò lửa b ng

gas; bà Trần Thị D đã có hành vi cho bị cáo mượn 50.000 đồng trả tiền xe đò khi bị cáo tìm nơi tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có; ông Văng Hòa T đã có hành vi mua c a bị cáo 02 điện thoại di động, 01 máy tính bảng và được bị cáo cho sạc dự phòng, cốc sạc, cáp sạc bị chiếm đoạt; ông Tô Văn T1 đã có hành vi nhận 01 điện thoại di động NOKIA do bị cáo cho; ông La Phương N đã có hành vi nhận 01 sạc dự phòng hiệu HOCO từ bị cáo. Tuy nhiên, ông P không biết bị cáo sử dụng khò lửa vào việc phạm tội; bà D không biết bị cáo mượn tiền để trả tiền xe đò khi tìm nơi tiêu thụ tài sản chiếm đoạt được; các ông T, T1, N không biết tài sản mà mình mua, được cho là tài sản do phạm tội mà có. Cho nên, trách nhiệm hình sự không đặt ra đối với các ông, bà P, D, T, T1, N là phù hợp quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra giao trả lại cho bị hại 02 tai

nghe, 06 cốc sạc, 07 cáp sạc hiệu OPPO, 08 sạc dự phòng hiệu TEKIN, HOCO, MICROCOM, 03 điện thoại di động hiệu OPPO F3, SAMSUNG A520, NOKIA

630, 01 máy tính bảng, 08 hộp giấy có chữ OPPO A5S, OPPO A5 2020, OPPO

A9 2020, OPPO A1K 2020, OPPO Reno 2, HUAWEI Y3 2017 và HONOR 7S

là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

nên không đề cập xử lý lại.

- 01 dụng cụ khò lửa b ng gas được bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm

tội thuộc sở hữu c a ông P; 01 khóa hiệu KINbar ALARM LOCK là vật có giá

trị chứng minh tội phạm, người phạm tội và thuộc sở hữu c a ông K. Do các tài

sản này không còn giá trị sử dụng và ông P, ông K không yêu cầu nhận lại nên

tịch thu, tiêu h y theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, các điểm a, c

khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

- Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, ông K không yêu cầu bị cáo bồi

thường đối với tài sản không thu hồi được nên không đề cập giải quyết.

- Việc mua bán 02 điện thoại di động, 01 máy tính bảng bị chiếm đoạt

giữa ông T với bị cáo H là vô hiệu do vi phạm điều cấm. Do ông T không yêu

cầu bị cáo hoàn trả số tiền mà ông T đã trả khi mua tài sản do phạm tội mà có

nên không đề cập giải quyết.

- Bà D không yêu cầu bị cáo trả số tiền 50.000 đồng mà bà D cho bị cáo

mượn trả tiền xe đò nên không đề cập giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền

kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,

Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H (H La Hán, BM) phạm tội “Trộm cắp

tài sản”;

Xử phạt: Trần Văn H: 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù c a bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm

giữ, ngày 28/11/2019 (ngày hai mươi tám, tháng mười một, năm hai nghìn

không trăm mười chín).

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a khoản 1

Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015,được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các điểm

a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu h y: 01 (một) bộ dụng cụ khò lửa b ng ga (đã qua sử dụng)

và 01 (một) khóa hiệu KINbar ALARM LOCK (đã qua sử dụng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/02/2020 giữa Cơ quan Cảnh

sát điều tra Công an huyện Chợ Mới với Chi cục Thi hành án dân sự huyện C).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí

hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu

cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo c a ông Nguyễn Hoàng Anh K, ông Văng Hòa

T, bà Trần Thị D, ông Văng Văn P, ông Tô Văn T1, ông La Phương N, bà Nguyễn Thị Thùy T2 là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ