vanban.org

Bản án 06/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị K.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị K ly hôn với ông Trần Bùi TONY V. 2/ Về con chung: Bà Võ Thị Kiều và ông Trần Bùi TONY V có 02 con chung là Trần Vũ Thanh B, sinh ngày 08-6-2005 và Trần Vũ Thuyên K, sinh ngày 17-01-2013. Khi ly hôn, giao bà Võ Thị K trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Bình, cháu K. Ông Tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị K yêu cầu ly hôn Trần Bùi TONY V"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị K.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 07-5-2020
V/v tranh chấp: “Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI,

TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trà Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Nga

Ông Nguyễn Văn Tấn.

- Thư ký phiên toà: Ông Hồ Văn Trúc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2020/TLST-HNGĐ ngày 17/01/2020 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị K, sinh năm 1985, nơi cư trú: Thôn Châu Bình, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Bùi TONY V, sinh năm 1969, nơi cư trú: Số 74/38

đường Phan Đình Phùng, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06-01-2020, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 16-01-2020, các bản tự khai ngày 20-01-2020, ngày 17-4-2020 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Thị K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Bùi TONY V tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn tại UBND phường Trần Hưng Đạo, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 21-12-2017. Trong quá trình vợ chồng chung sống không hạnh phúc, ông V sống thiếu tôn trọng vợ, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Với suy nghĩ ông V sẽ thay đổi lối sống bà đã cố gắng tiếp tục chung sống cho đến nay nhưng ông V vẫn không thay đổi nên tâm trạng của bà luôn bị áp lực về tinh thần. Vợ chồng không sống chung với nhau gần một năm nay, bà không thể sống chung được nữa với ông V. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Bùi TONY V.

- Về con chung: Bà và ông Trần Bùi TONY V có 02 con chung là Trần Vũ Thanh B, sinh ngày 08-6-2005 và Trần Vũ Thuyên K, sinh ngày 17-01-2013, hiện nay 02 cháu đang ở với mẹ. Theo đơn khởi kiện, khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kim, còn cháu Bình giao cho Trần Bùi TONY V trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào cấp dưỡng nuôi con, nhưng ông V không đến Tòa để giải quyết nên bà thay đổi yêu cầu, khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, cháu B và yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi hai con theo quy định của pháp luật, ông V phải cấp dưỡng nuôi mỗi con, mỗi tháng 750.000 đồng, hai con ông V cấp dưỡng nuôi một tháng 1.500.000 tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ khi Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi giải quyết xong vụ án. Bà làm nghề thợ may thu nhập một tháng khoản 7.000.000 đồng, còn ông V chạy xe đường dài một tháng thu nhập khoảng 15.000.000 đồng.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Trần Bùi TONY V không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thụ lý giải quyết đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 48, Điều 68, Điều 97, Điều 196, Điều 203, Điều 208, Điều 211, Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa, đã tuân theo đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị K. Bà Võ Thị K ly hôn ông Trần Bùi TONY V. Về con chung: Bà Võ Thị K và ông Trần Bùi TONY V có 02 con chung là Trần Vũ Thanh B, sinh ngày 08-6-2005 và Trần Vũ Thuyên K, sinh ngày 17-01-2013. Khi ly hôn, giao cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu, cháu B và cháu K. Ông Trần Bùi TONY V cấp dưỡng nuôi 02 cháu theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà K phải chịu 300.000 đồng. Ông V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Trần Bùi TONY V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị K và ông Trần Bùi TONY V tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn tại UBND phường Trần Hưng Đạo, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 21-12-2017 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn trong quá trình chung sống ông V sống thiếu tôn trọng vợ, bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, tâm trạng của bà luôn bị áp lực về tinh thần, vợ chồng không còn sống chung hơn 01 năm nay. Từ đó bà K yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Bùi TONY V. Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã triệu tập ông V đến làm việc và hòa giải nhưng ông V không đến cũng như không có văn bản trình bày ý kiến, chứng tỏ ông V không thiện chí muốn hòa giải mâu thuẫn giữa hai vợ chồng để quay về đoàn tụ. Xét thấy lý do xin ly hôn của bà K chính đáng, tình trạng hôn nhân giữa bà K và ông V đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị K, bà Võ Thị K được ly hôn với ông Trần Bùi TONY V.

Về con chung: Bà Võ Thị K và ông Trần Bùi TONY V có 02 con chung là Trần Vũ Thanh B, sinh ngày 08-6-2005 và Trần Vũ Thuyên K, sinh ngày 17-01-2013, hiện nay 02 cháu, cháu B và cháu K sức khỏe vẫn tốt, học hành bình thường. Bà K có nghề nghiệp, có thu nhập, đảm bảo điều kiện để nuôi 02 cháu. Khi ly hôn cháu K có đơn nguyện vọng ở với mẹ, cháu B có đơn nguyện vọng ở với ba. Tuy nhiên, ông V không đến Tòa cũng như không có đơn trình bày ý kiến về việc nuôi con, mặc khác ông V lái xe đường dài thường không có thời gian nhiều ở nhà chăm sóc con, do đó việc giao cháu B cho ông V không đảm bảo các điều kiện cần thiết cho cháu B phát triển bình thường. Nên để đảm bảo quyền lợi của các con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà K, giao 02 cháu, cháu B và cháu K cho bà K chăm sóc, nuôi dưỡng, ông V cấp dưỡng nuôi 02 cháu, mỗi tháng, mỗi cháu 750.000 đồng, 02 cháu một tháng cấp dưỡng 1.500.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 05-2020 cho đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi, là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, bà K phải chịu 300.000 đồng nhưng đã tạm ứng nên được khấu trừ. Ông V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Với những nhận định trên phù hợp với ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị K.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị K ly hôn với ông Trần Bùi TONY V.

2/ Về con chung: Bà Võ Thị Kiều và ông Trần Bùi TONY V có 02 con chung là Trần Vũ Thanh B, sinh ngày 08-6-2005 và Trần Vũ Thuyên K, sinh ngày 17-01-2013. Khi ly hôn, giao bà Võ Thị K trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Bình, cháu K. Ông Trần Bùi TONY V cấp dưỡng nuôi 02 cháu B, cháu K, mỗi tháng, mỗi cháu 750.000 đồng, 02 cháu, cháu B và cháu K một tháng ông Trần Bùi TONY V cấp dưỡng 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 05-2020 cho đến khi 02 cháu, cháu B, cháu K đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

4/ Về nợ chung: Không có.

5/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị K phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà K đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0003237 ngày 17 tháng 01 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi. Ông Trần Bùi TONY V phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

6/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ