vanban.org

Bản án 06/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Đặng Thị Thùy D ly hôn ông Vũ Hà Thành C.

Về nuôi con chung: 1 Giao con chung tên Vũ Ngọc Thanh T sinh ngày 13/12/2016 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Đặng Thị Thùy D ly hôn ông Vũ Hà Thành C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẢO LỘC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 06/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 06-3-2020
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cầm Văn Nam

2. Bà Đỗ Thị Hải

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 484/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thùy D, sinh năm 1986. Nơi cư trú: đường H, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Vũ Hà Thành C, sinh năm 1986. Nơi cư trú: đường H, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử cũng như lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đặng Thị Thùy D trình bày: Bà và ông Vũ Hà Thành C tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 08/3/2016. Sau khi kết hôn, thời gian đầu cả hai chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2018 thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính tình không hòa hợp, ông C có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không có trách nhiệm với gia đình, cũng không tôn trọng bà. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng kéo dài, hiện cả hai đã sống ly thân hơn một năm nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông C.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Vũ Ngọc Thanh T sinh ngày 13/12/2016, hiện đang ở với bà. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con vì bà có công việc, thu nhập ổn định và từ nhỏ đến nay cháu T luôn được bà trực tiếp chăm sóc; bà yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho tới khi con chung thành niên.

Về tài sản chung: Cả hai tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Bà xác định không có.

Trong quá trình xét xử bị đơn ông Vũ Hà Thành C trình bày: Ông xác nhận việc đăng ký kết hôn như lời trình bày của bà D là đúng. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không còn thấu hiểu và tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên tranh cải do bất đồng về tính cách, quan điểm sống; bản thân ông đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng đến nay vẫn không có kết quả, hiện vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm ông dành cho bà D cũng không còn nên bà D yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung như bà D trình bày. Ly hôn ông đồng ý để bà D trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho tới khi con chung thành niên.

Về tài sản chung: Cả hai tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Ông xác định không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình cho bà D được ly hôn với ông C vì mục đích hôn nhân không đạt. Giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, ông C cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Tòa án nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Vũ Hà Thành C vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.

. Về quan hệ tranh chấp: Bà Đặng Thị Thùy D khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông C hiện cư trú tại Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông C là hợp pháp do hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, bà D xác định cuộc sống vợ chồng không thể hòa hợp, tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn. Ông C trình bày mâu thuẫn giữa vợ chồng kéo dài đến nay vẫn không khắc phục được và bản thân ông cũng không còn tình cảm đối với bà D nên đồng ý ly hôn với và Dung. Thực tế qua xác minh chính quyền địa phương thì hiện nay bà D, ông C đang sống ly thân. Với thực trạng hôn nhân như trên đã thể hiện mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và kéo dài, hai bên không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của bà D, cho bà D và ông C ly hôn.

. Ly hôn bà D yêu cầu trực tiếp nuôi con chung tên Vũ Ngọc Thanh T sinh ngày 13/12/2016 và yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho tới khi con chung thành niên. Quá trình giải quyết vụ án ông C cũng đồng ý để bà D trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng nuôi con. Xét sự thỏa thuận này phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

. Bà D và ông C tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

. Về nợ chung: Hai bên xác định không có nên không đề cập.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm không có giá ngạch, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Cho bà Đặng Thị Thùy D ly hôn ông Vũ Hà Thành C.

2. Về nuôi con chung:

2.1 Giao con chung tên Vũ Ngọc Thanh T sinh ngày 13/12/2016 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.

2.2 Ông C đóng góp nuôi con với bà D số tiền là 3.000.000đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 4/2020 cho đến khi con chung thành niên.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Bà D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2016/0016520 ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Bà D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Ông C phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ