- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Anh Chau S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06 /2020/HNGĐ- ST Ngày: 24-3-2020. V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN – TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Nữ Ngọc Lan Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Hồ Văn Dũng
Ông: Huỳnh Văn Minh
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Kim Liệu Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Chau Pho Ly - Kiểm sát viên. Ngày 24 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 357/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXX-ST ngày 19 tháng 2 năm 2020; Quyết định hoàn phiên tòa số 120/2020/QĐST – HNGĐ, ngày 09 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Chau S, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ 9, ấp Ninh Thuận, xã An Tức, tỉnh An Giang (có mặt)
2. Bị đơn: Chị Néang Sóc Th, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ 9, ấp Ninh Thuận, xã An Tức, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (vắng mặt).
3. Người phiên dịch: Ông Chau Sóc S, sinh năm 1992; cán bộ trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh An Giang – Chi nhán số 02, huyện Tri Tôn (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn ngày 28-10-2019 và lời khai tại Tòa án nguyên đơn anh Chau S trình bày: Anh và chị Néang Sóc Th tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới vào năm 2016 và có đăng ký kết hôn, quá trình chung sống anh và chị có với nhau 01 con chung tên Néang Son Ra V, sinh ngày 25-9-2016, anh S và chị Th hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẩn bắt đầu từ năm 2017 đến nay nguyên nhân chính anh Chau S cho rằng, giữa anh và chị thường xuyên cải vả, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chị Th tự bỏ gia đình đi nơi khác sinh sống anh đã nhiều lần khuyên chị quay về, nhưng chị Th không về. Anh S và chị Th ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục anh Chau S yêu cầu xin ly hôn với chị Néang Sóc Th.
Về con chung: Có 01 con chung tên Néang Son Ra V, sinh ngày 25-9-2016. Cháu hiện đang sống cùng chị Th. Khi ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị Néang Sóc Th tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Néang Sóc Th, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhưng chị Th cố tình vắng mặt không rỏ lý do, nên Tòa án không thể tiếp nhận lời khai của chị Th
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hỏa giải, nguyên đơn anh Chau S có mặt, bị đơn chị Néang Sóc Th vắng mặt, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên họp nhưng chị Th vẫn vắng mặt không rỏ lý do, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn anh Chau S vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị Néang Sóc Th; về con chung anh đồng ý giao con chung tên Néang Son Ra V, sinh ngày 25-9-2016 cho chị Th tiếp tục nuôi dạy, không cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung; nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Néang Sóc Th: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ chị Th, nhưng chị Th vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Về việc chấp hành pháp luật:
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa đảm bảo quy định tại Điều 70 và Điều 72 BLTTDS năm 2015
- Về ý kiến việc giải quyết vụ án: Vào năm 2016 được sự đồng ý của hai bên gia dình nên anh S và chị Th tổ chức lễ cưới, đến ngày 29-01-2016 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Tức, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang được xem là quan hệ hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó đến năm 2017 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẩn do bất đồng quan điêm sống, thường xuyên cự cải và đã ly thân đến nay. Nay anh S nhận thấy cuộc sống hôn nhân không được hạnh phúc nên xin được ly hôn với chị Néang Sóc Th. Mặt khác tự khi thụ lý đến nay chị Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt là từ bỏ quyền lợi và nghĩa vụ của mình.
Căn cứ biên bản xác minh ngày 17-01-2020 thì vợ chồng anh Chau S và chị Néang Sóc Th nhận thấy cuộc sống không hạnh phúc và đã ly thân khoảng 2 năm nay. Do vậy nhận thấy mâu thuẩn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn lại được, anh S xin ly hôn với chị Th.
Về con chung: Có 01 con chung tên Néang Son Ra V, sinh ngày 25-9-2016 hiện đang sống cùng chị Néang Sóc Th và để đảm bảo điều sinh sống không thay đổi nên giao cháu Vy cho chị Th nuôi dưỡng là phù hợp đồng thời ông S cũng đồng ý giao con chung cho chị Th tiếp tục nuôi dạy, ông không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không xem xét giải quyết.
Từ những chứng cứ trên, xét thấy anh Chau S xin ly hôn với chị Néang Sóc Th là có căn cứ chấp nhận
Từ những phân tích trên, đề nghị Tòa án xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá về vụ án như sau:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Néang Sóc Th cư trú tại ấp Ninh Thuận, xã An Tức, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, quan hệ tranh chấp là quan hệ hôn nhân và gia đình là loại tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và theo quy định khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Néang Sóc Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm, chị Th vẫn vắng mặt không rỏ lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt đối với chị Néang Sóc Th.
Về nội dung tranh chấp: Quan hệ hôn nhân giữa anh Chau S và chị Néang Sóc Th được xác lập trên cơ sở tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2016, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống vợ chồng, anh S và chị Th có với nhau 01 con chung tên Néang Son Ra V, sinh ngày 25-9-2016, hạnh phúc được một thời gian sau đó phát sinh mâu thuẩn bắt đầu từ năm 2017 đến nay. Nay anh Chau S xin ly hôn với chị Néang Sóc Th.
Theo biên bản xác minh ngày 17-1-2020 tại ban ấp Ninh Thuận, xã An Tức cho biết cuộc sống hôn nhân giữa anh S và chị Th khoảng thời gian 3 năm trở lại đây cuộc sống hôn nhân của anh S và chị Th không hạnh phúc, hai người đã sống ly thân được khoảng 2 năm nay, giữa anh Chau S và chị Neang Sóc Th có 01 con chung tến Néang Son Ra V, sinh ngày 25-9-2016 hiện do chị Th nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử nhận thấy Hôn nhân là nhằm giúp vợ chồng xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, nhưng do vợ chồng không có tiếng nói chung trong việc giải quyết cuộc sống gia đình, tuy nhiên giữa anh S và chị Th không hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân, bất đồng quan điểm sống, giữa anh S và chị Th không giành thời gian quan tâm chăm sóc gia đình, chia sẻ, động viên nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống gia đình. Mâu thuẩn giữa anh S và chị Th phát sinh bắt đầu từ năm 2017 và ly thân từ đó đến nay, trong thời gian ly thân hai bên không gặp gỡ nhau để nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do vậy Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Chau S và chị Néang Sóc Th rơi vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu của anh Chau S về việc yêu cầu ly hôn với chị Néang Sóc Th là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. [4] Về con chung: 01 con chung tên Néang Son Ra V, sinh ngày 25-9-2016, hiện đang sống cùng chị Néang Sóc Th, anh Chau S đồng ý giao con chung cho Th tục nuôi dưỡng cháu, không cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Néang Son Ra V, sinh ngày 25-9-2016 hiện nay đang sống cùng chị Th từ lúc anh S và chị Th ly thân đến nay. Quá trình tố tụng anh S và chị Th không tranh chấp về con chung, vì vậy nhằm tạo điều kiện sự phát triển toàn diện của cháu Vy, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giao cháu Néang Son Ra V, sinh ngày 25-9-2016 cho chị Néang Sóc Th tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con, do chị Th không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh Chau S là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình, anh Chau S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của Anh Chau S.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Chau S được ly hôn với chị Néang Sóc Th.
Giấy chứng nhận kết hôn số 07, ngày 29 tháng 01 năm 2016 của Ủy ban nhân dân xã An Tức, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung:
Giao cháu Néang Son Ra V, sinh ngày 25-9-2016 cho chị Néang Sóc Th được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Chau S không cấp dưỡng nuôi con chung.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Chau S phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà anh Chau S đã nộp theo biên lai thu số 0009574 ngày 09 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Tri Tôn; - THADS huyện Tri Tôn; - Uỷ ban nhân dân xã An Tức huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đào Nữ Ngọc Lan |