vanban.org

Bản án 06/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Y P về việc ly hôn với anh Dương Văn N.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Dương Nguyễn Khánh D, sinh ngày 17/12/2015 cho anh N được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị P không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản. Về án phí: Chị Nguyễn Y P phải nộp số tiền 300.000 đồng; ngày 05/12/2019 chị P đã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Y P về việc ly hôn với anh Dương Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HNGĐ-ST
Ngày 16- 01- 2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Việt Thắng

2. Ông Trần Quốc

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thêu- Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 16 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 772/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 451/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Y P, sinh năm 1996 (Xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Dương Văn N, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Ô, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04/12/2019,và đơn xin vắng mặt ngày 26/12/2019, nguyên đơn chị Nguyễn Y P trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Y P và anh Dương Văn N sống chung với nhau từ năm 2015, hôn nhân tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (theo giấy chứng nhận kết hôn số 134 ngày 03/12/2015). Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống lúc đầu sống rất hạnh phúc, thời gian về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cải với nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh N có lần đánh đập chị, chị và anh N đã ly thân hơn 06 tháng nay. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh N.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị P và anh N có 01 người con tên Dương Nguyễn Khánh D, sinh ngày 17/12/2015. Khi ly hôn vợ chồng tự thỏa thuận.

- Về tài sản chung,nợ chung: Chị P xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại tờ tường trình ngày 16/12/2019, anh Dương Văn N trình bày: Anh thống nhất như trình bày của nguyên đơn về hôn nhận, anh và chị P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đúng như chị P trình bày. Do điều kiện kinh tế gia đình nên vợ chồng anh đi làm thuê ở nhiều nơi. Ngày 07/6/2019 vợ anh dẫn con về bên nhà mẹ ruột của vợ chơi đến ngày 09/6/2019, anh đến rướt con về nuôi cho đến nay, còn vợ anh thì mất liên lạc đến nay. Nay anh không đồng ý giao con cho chị P nuôi. Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 26/12/2019, chị P đồng ý giao cháu Dương Nguyễn Khánh D, sinh ngày 17/12/2015 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền của tòa án: Bị đơn anh Dương Văn N có nơi cư trú tại ấp Ông Bích, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Y P khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Dương Văn N, tranh chấp về nuôi con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chị P là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị P là nguyên đơn, anh N là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị P xin vắng mặt, anh N vắng mặt; Căn cứ theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Y P và anh Dương Văn N không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, chị P và anh N đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh N đã ly thân hơn 06 tháng nay. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, cho chị P được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị P và anh N có 01 người con tên Dương Nguyễn Khánh D, sinh ngày 17/12/2015. Khi ly hôn chị đồng ý giao cháu D cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu đặt ra cấp dưỡng.

Xét, con chung tên Dương Nguyễn Khánh D, sinh ngày 17/12/2015 hiện đang sống cùng với anh N. Từ khi chị P bỏ đi đến nay cháu D sống cùng anh N, gần gũi với anh nghiệp, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; Tiếp tục giao cháu Dương Nguyễn Khánh D, sinh ngày 17/12/2015 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, phù hợp với ý kiến của chị P tại đơn yêu cầu ngày 26/12/2019. Chị P không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Chị P không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng, anh N không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và nợ: Chị P xác định tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Y P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình ly hôn theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Y P về việc ly hôn với anh Dương Văn N.

-Về con chung: Tiếp tục giao cháu Dương Nguyễn Khánh D, sinh ngày 17/12/2015 cho anh N được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị P không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Y P phải nộp số tiền 300.000 đồng; ngày 05/12/2019 chị P đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002943 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ