vanban.org

Bản án 06/2020/HC-ST — Hành chính

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 28/02/2020 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH 14 ngày 30/12/016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nghiêm Đình M về việc đề nghị: Hủy công văn số 822/UBND-KT ngày 20/6/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ V/v giải quyết, đề nghị được bồi thường đất và việc lập hồ sơ giải phóng mặt bằng liên quan một số tài sản trên đất của ông Nghiêm Đình M, trú tại thô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Bản án HCST Nghiêm Đình M kiện quyết định hành chính của UBND huyện S"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH 14 ngày 30/12/016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 32 Luật tố tụng hành chính; Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC Hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đ…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2020/HC-ST
Ngày 28/02/2020
V/v Khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực đất đai.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thế Vinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý đình Đạt;

Ông Ngô Văn Bê.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Anh- Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Ông Hoàng Đức Trình- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24/02 và 28/02/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 46/2019/TLST-HC ngày 02/7/2019 về việc Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 46/2019/QĐST-HC ngày 04/11/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 65/2019/QĐST-HC ngày 25/11/2019, số 73/2019/QĐST-HC ngày 18/12/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 07/2020/QĐST-HC ngày 07/02/2020, giữa các đương sự:

Ngƣời khởi kiện: Ông Nghiêm Đình M, sinh năm 1965

Địa chỉ: thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang. Có mặt

Ngƣời bị kiện:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang. Do ông Nguyễn Quang Ng, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ là người đại diện theo pháp luật. Ông Ngạn ủy quyền cho ông Hoàng Văn Tr, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ tham gia tố tụng tại Tòa án. (Ông Tr xin vắng mặt).

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang. Do ông Lại Thanh S, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang là người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch (theo văn bản ủy quyền số 1106/QĐ-UBND ngày 09/7/2019-BL 211). (Ông Sơn xin vắng mặt).

Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ngƣời bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang là ông Ngô Văn X, chức vụ: Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang và ông Giáp Văm T, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện SĐ. (Ông X và ông T vắng mặt).

Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ngƣời bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ là ông Nguyễn Ngọc Ng, chức vụ: Giám đốc Trung tâm phát triển quĩ đất và Cụm công nghiệp huyện SĐ. (Có mặt).

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang. Do ông Nguyễn Quang Ng, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ là người đại diện theo pháp luật. Ông Ng ủy quyền cho ông Hoàng Văn Tr, chức vụ: Phó Chủ tịch tham gia tố tụng tại Tòa án. (Ông Trọng xin vắng mặt).

- Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang. Do ông Phạm Văn H, chức vụ: Phó Chủ tịch phụ trách là người đại diện theo pháp luật. (Ông H có mặt từ khi bắt đầu phiên tòa, xin vắng mặt khi tuyếnên án).

- Bà Hoàng Thị Y, sinh năm 1975. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/6/2019, đơn khơi kiện bổ sung đề ngày 29/6/2019, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, người khởi kiện ông Nghiêm Đình M trình bày:

Đề nghị Tòa án:

- Hủy công văn số 822/UBND-KT ngày 20/6/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ v/v giải quyết, đề nghị được bồi thường đất và việc lập hồ sơ giải phóng mặt bằng liên quan một số tài sản trên đất của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T (Viết tắt là công văn số 822/UBND-KT ngày 20/6/2019).

- Hủy bỏ khoản 1 Điều 1 Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang (lần 2) (viết tắt là Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019).

Căn cứ người khởi kiện đưa ra là:

Nguồn gốc 3780m² (trong đó có 720m² đất ở và 3.060m² đất trồng cây lâu năm) tại thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ do cha ông khi hoang từ những năm 1966 và để lại cho gia đình ông, ông đã sử dụng ổn định, không tranh chấp, được Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là giấy CNQSD đất) số Q 619153 ngày 25/5/2000, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số …(không ghi số).

Thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp đưởng tỉnh 293 đoạn thị trấn T đi xã L gia đình ông đồng ý.

Ngày 16/12/20016 Ủy ban nhân dân huyện SĐ cử tổ công tác đến gia đình ông kiểm đếm tài sản trên đất bị thu hồi, sau đó ban hành quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường như sau:

1. Quyết định số: 270/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Ủy ban nhân dân huyện SĐ về việc thu hồi đất để thực hiện dự án: xây dựng đường tỉnh 293 đoạn Thị trấn T, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang (đợt 25) (viết tắt là Quyết định số: 270/QĐ-UBND ngày 31/7/2017);

2. Quyết định số: 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Ủy ban nhân dân huyện SĐ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư dự án: Xây dựng đường tỉnh 293 đoạn thị trấn T, thuộc địa phận huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang (đợt 25) (viết tắt là Quyết định số: 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017).

Ông cho rằng 2 quyết định trên là không đúng vì: Quyết định thu hồi đất ghi thiếu diện tích đất, không thể hiện bao nhiêu m² đất ở, bao nhiêu m² đất trồng cây lâu năm.

Quyết định phê duyệt phương án bồi thường chỉ bồi thường cho ông 109,3m², với giá 300.000đồng/m2 và một số cây cối, chuồng trâu, không bồi thường 259,9m² đất trồng cây lâu năm (đất sản xuất) và tài sản trên đất gồm nhà cấp 4, nhà xưởng lợp tôn là thiếu tài sản của ông, không phù hợp với thực tế, ông không đồng ý giá đất ở là 300.000đ/m² vì đất của gia đình ông nằm sát đường tỉnh 293, nhà xưởng cơ khí của ông đã được kiểm đếm, nhưng không được bồi thường.

Ngày 14/12/2017 ông đã khiếu nại việc này.

Ngày 22/10/2018 ông nhận được Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ (lần đầu) (viết tắt là Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018). Đã không chấp nhận yêu cầu của ông.

Ngày 27/11/2018 ông khiếu nại Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018.

Tại Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ (lần hai) (viết tắt là Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019) cũng không chấp nhận yêu cầu của ông và thống nhất với Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 05/02/2018. Ngoài ra quyết định còn giao cho Chủ tịch UBND huyện SĐ thực hiện dứt điểm kết luận thanh tra số 307/KL-UBND ngày 13/4/2017, giải quyết theo thẩm quyền nội dung ông Nghiêm Đình M đề nghị được bồi thường diện tích 151,1m2 đất thuộc thuộc thửa đất số 15, diện tích 22,9m2 thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 33 và tài sản (gồ bể xây gạch, nhà xưởng lợp tôn, nhà cấp 4, tường rào) trên thửa đất số 24, tờ bản đồ số 33.

Ông xác định các quyết định hành chính trên là giải quyết không đúng. Diện tích đất 3780m² (trong đó có 720m² đất ở và 3.060m² đất trồng cây lâu năm) tại thôn Đ, thị trấn T, được cấp giấy CNQSD đất ngày 25/5/2000, năm 2010 kiểm kê đo lại đất đã tách làm 2 thửa gồm:

- Thửa số 15, diện tích 2235,9m2, nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng là 256m2 gồm 104,3m2 đát ở và 151,7m2 đất trồng cây lâu năm;

- Thửa số 24, diện tích 1236,5m2 nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng là 113,2m2 gồm 5m2 đất ở và 85,3m2 đất trồng cây lâu năm.

Trong Quyết định số: 270 chỉ thể hiện 5m2 + 104,3m2 đất ở, không thể hiện: 151,7m2 + 22,9m2 + 85,3m2 = 259,9m2 đất trồng cây lâu năm.

Ông xác định diện tích 259,9m2 đất trồng cây lâu năm phải được bồi thường.

+Về tài sản trên đất: Ông xây nhà cấp 4, nhà xưởng lợp tôn, bể xây gạch trước khi có quyết định thu hồi đất ngày 26/10/2016, không vi phạm chi giới hành lang giao thông, không vi phạm thông báo ngày 20/7/2016 nên được bồi thường (BL 48).

Ông nhận được công văn số 822/UBND-KT ngày 20/6/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ V/v giải quyết đề nghị được bồi thường và lập hồ sơ giải mặt bằng liên quan một số tài sản trên đất của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T. (viết tắt là công văn số822/UBND-KT ngày 20/6/2019). Gia đình ông không đồng ý với công văn này

Cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm, ông đã khởi kiện vụ án, đề nghị Tòa án hủy các quyết định trên.

*Ngƣời bị kiện:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ có văn bản số 62/UBND ngày 22/7/2019, số 102/UBND-NC ngày 04/10/2019 (BL 197) và văn bản số 09/UBND-NC ngày 12/02/2020 trình bày:

1. Tóm tắt nội dung vụ việc

Thực hiện Quyết định số: 1738/QĐ-UBND ngày 01/11/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về viê ̣c phê duyệt lại dự á n đầu tư xây dựng công trình: Cải tạo, nâng cấp Đường tỉnh 293 và các tuyếnến nhánh vào Tây Yên Tử, chùa V, tỉnh Bắc Giang; Công văn số 246/UBND-GT ngày 11/02/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh về viê ̣c triển khai dự án , cải tạo câng cấp Đường tỉnh 293 và các tuyếnến nhánh vào Tây Yên Tử, chùa Vĩ.

Thực hiện Quyết định số: 1824/QĐ-UBND ngày 11/11/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về viê ̣c phê duyệt bổ sung mô ̣t số khối lượng ha ̣ng mục công trình Dự án đầu tư xây dựng công trình : Cải tạo, nâng cấp Đường tỉnh 293 và các tuyếnến nhánh vào Tây Yên Tử, chùa V, tỉnh Bắc Giang;

UBND huyện SĐ đã tiến hành thực hiện công tác lập hồ sơ thu hồi đất, bồi thường GPMB cho các hộ có đất, tài sản trên đất thuộc phạm vi dự án cải tạo, nâng cấp Đường tỉnh 293 và tuyếnến nhánh vào Tây Yên Tử trên địa bàn huyện SĐ.

Trong quá trình thực hiện giải phóng mặt bằng, Hội đồng GPMB phát hiện một số GCNQSD đất của các hộ gia đình, cá nhân được cấp đến mép ngoài cùng của nền đường tỉnh 293 (không ghi chỉ giới trừ hành lang giao thông đường tỉnh 293).

UBND huyện SĐ đã tiến hành thành lập Đoàn thanh tra về

việc cấp GCNQSD (giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng ) đất đối với một số hộ gia đình, cá nhân dọc tuyếnến Đường tỉnh 293 tại địa phận xa: Y, T, Th và thị trấn T, huyệñ SĐ (giai đoạn 1993-2013). Ngày 13/4/2017, Chủ tịch UBND huyện SĐ ban hành Kết luận số 307/KL-UBND về viê ̣c chấp hành pháp luâ ̣t về đất đai đối vớ i UBND các xã: Y, T, Th và thị trấn T, huyện SĐ. Nô ̣i dung đa chĩ

rỏ ̃ viê ̣c cấp GCNQSD (giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng ) đất thanh tra việc cấp GCNQSD đất đối với một số hộ gia đình, cá nhân dọc tuyến Đường tỉnh 293 tại địa phận thị trấn T và xã T1 huyện SĐ (giai đoạn 1993-2013), yêu cầu thu hồi GCNQSD đất do tại thời điểm cấp có sai về diện tích đất, không ghi ngày, tháng, diện tích sử dụng lớn hơn diện tích đất ghi trong GCNQSD đất và không ghi chỉ giới trừ hành lang giao thông theo quy định của Đường tỉnh 293 trong GCNQSD đất của các công dân (NĐ 172(Điều 5))…..Từ những sai sót trên UBND huyện có Quyết định về vê ̣c thu hồi GCNQSD đất của các hộ cấp sai tại thời điểm cấp , đối vớ i các hô ̣ gia đinh cá nhân do ̣c tuyếnến Đường tỉnh 293 tại xã Th và thị

̀ trấn T trong đó có hô ̣ ông Nghiêm Đinh M, các hộ dân không hợp tác nộp để

̀

làm thủ tục cấp lại và đính chính lại cho đúng thực tế.

Ngày 20/6/2019, Chủ tịch UBND huyện SĐ ban hành công văn số 822/ UBND-KT ngày 20/6/2019 về viê ̣c giải quyết đề nghi ̣ được bồi thườ ng đất và viê ̣c lâ ̣p hồ sơ GPMB (giải phóng mặt bằng ) liên quan mô ̣t số tài sản của ông Nghiêm Đinh M, trú tại thôn Đồng Thanh , thị trấn T, huyện SĐ. Vớ i nô ̣i dung

̀ như sau:

1. Về 151,7m2 đất tại thửa số 15; 22,9m2 đất tại thửa số 24, tờ bản đồ địa chính số 33 đất ông Nghiêm Đình M đề nghị đƣợc bồi thƣờng:

Thửa đất của gia đình ông nằm trong phạm vi GPMB gồm: thửa số 15, tờ bản đồ địa chính số 33 ( thửa số 11, tờ bản đồ thực hiện kiểm kê số 35), có tổng diện tích là 2.335,9m2; thửa số 24, tờ bản đồ địa chính số 33 ( thửa số 22, tờ bản đồ thực hiện kiểm kê số 35), có tổng diện tích là 1.236,6m2. Tổng số diện tích đất này đã được UBND huyện SĐ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 619153 ngày 25/5/2000 với tổng diện tích là 3.780m2, trong đó: Đất ở: 720,0m2, đất trồng cây lâu năm: 3.060,0m2 mang tên Nghiêm Đình M.

Ngày 13/4/2017, Chủ tịch UBND huyện SĐ ban hành Kết luận Thanh tra số 307/KL-UBND về việc chấp hành pháp luật về đất đai đối với UBND các xã: Y, T1, TH và thị trấn T, huyện SĐ. Nội dung đã chỉ rõ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 619153 ngày 25/5/2000 của gia đình ông như sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện khoảng cách HLGT ĐT 293 là không đúng với quy định tại Khoản 1, Điều 5, Nghị định số 172/1999/NĐ-CP ngày 07/12/1999 của Chính phủ: “Đối với đường ngoài khu vực đô thị, căn cứ cấp kỹ thuật của đường theo quy hoạch, tính từ mép chân mái đường đắp hoặc mép đỉnh mái đường đào hoặc từ mép ngoài rãnh dọc hoặc rãnh đỉnh của đường trở ra hai bên là: 20m (hai mươi mét) đối với đường cao tốc và đường cấp 1, cấp 2; 15m (mười lăm mét) đối với đường cấp 3; 10m (mười mét) đối với đường cấp 4, cấp 5; Đối với đường liên thôn, liên xã, do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quy định nhưng hành lang mỗi bên không nhỏ hơn bề rộng một thân đường”.

Không ghi số vào sổ trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng quy định tại Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục đại chính hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quy định tại phần II Mục I điểm e. Số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ghi bằng chữ số ả rập ở góc cuối bên trái trang 2 của giấy chứng nhận và giữa các chữ: “Số... QSDĐ”.

Theo Kết luận Thanh tra số 307/KL-UBND, UBND huyê ̣n ch ỉ đạo cơ quan chuyên môn thu hồi GCNQSD đất của gia đinh ông để cấp lại , điều chỉnh

̀ đúng với quy định về hành lang an toàn giao thông

Diện tích nằm trong phạm vi GPMB đường tỉnh 293: UBND huyê ̣n trả lờ i ông như sau:

- Thửa số 15, tờ bản đồ địa chính số 33 ( thửa số 11, tờ bản đồ thực hiện kiểm kê số 35) là 256,0m2; trong đó: diện tích trừ hành lang an toàn giao thông theo Công văn 757/UBND-GT ngày 31/3/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh là: 151,7m2 diện tích này không được bồi thường; sau khi trừ hành lang an toàn giao thông gia đinh ông được bồi thường đất ở là: 104,3m2. Đến nay đa lã ̀m mă ̣t

̀ đườ ng và ranh thoã

́t nướ c Chưa lấy đến diê ̣n tich đất của gia đinh ông M đa lâ ̣̃ p

́

̀ phương án là 104,3m2, gia đinh ông M vẫn đang sử du ̣ng; Hô ̣i đồng bồi thườ ng

̀ đa lâ ̣̃ p phương án duyê ̣t giảm104,3m2 tại QĐ 563/ QĐ-UBND ngày 20/11/2019 và thu lại số tiền nộp lại ngân sách.

- Thửa số 24, tờ bản đồ địa chính số 33 ( thửa số 22, tờ bản đồ thực hiện kiểm kê số 35) là 113,2m2. Trong đó: diện tích trừ hành lang an toàn giao thông theo Công văn 757/UBND-GT ngày 31/3/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh là: 22,9m2 diện tích này không được bồi thường; sau khi trừ hành lang an toàn giao thông gia đinh ông được bồi thường đất ở là: 5,0m2. Đến nay đa lã ̀m mặt đường

̀ và rãnh thoát nước chưa lấy đến diện tích đất của gia đình ông Phúc đã lập phương án là 5,0m2, gia đinh ông Phúc vẫn đang sử du ̣ng; Hô ̣i đồng bồi thườ ng

̀ đa lâ ̣̃ p phương án duyê ̣t giảm 5,0 m2 tại QĐ 563/ QĐ-UBND ngày 20/11/2019 và thu lại số tiền nộp lại ngân sách.

2. Về đề nghị bồi thƣờng tài sản là các công trình trên đất:

UBND huyê ̣n căn cứ các văn bản quy đi ̣nh của nhà nướ c như sau:

Ngày 03/11/2011, UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Công văn số 56/UBND-KTN về việc tăng cường công tác quy hoạch, quản lý đất dọc hai bên Đường tỉnh 293 và các tuyến nhánh vào Tây Yên Tử. Chùa V;

Ngày 29/8/2011, UBND huyện SĐ ban hành Thông báo số 07/TB-UBND về việc tạm dừng việc lập các thủ tục về giao đất, cấp GCNQSD đất, chuyển nhượng, tách thửa đất đối với các thửa đất liên quan phạm vi thu hồi đất dự án đầu tư xây dựng công trình: Cải tạo, nâng cấp đường tỉnh 293 và các tuyến nhánh vào Tây Yên Tử huyện SĐ.

Ngày 04/12/2013, UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số: 651/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng dọc hai bên tuyến đường tỉnh 293 (đoạn từ thành phố Bắc Giang đến điểm giao với Quốc lộ 279) tỉnh Bắc Giang đến năm 2030.

Tháng 2/2016, hộ gia đình ông xây dựng ngôi nhà cấp 4 (dài: 8,9m, rộng 6,15m, bán mái dài: 6,2m, rộng 3,05m) cách tim đường 14m.

Tháng 7/2016, hộ gia đình ông xây dựng nhà xưởng lợp tôn (dài: 15,4m, rộng 9m) cách tim đường 14m; xây dựng tường rào cay xỉ dài 44m cách tim đường 5m.

Tháng 8/2016, hộ gia đình ông xây dựng công trình dạng bể xây cay xỉ, trát vữa 2 mặt (dài: 14,9m, rộng 8,35m, cao 1,4m ) cách tim đường 14m.

Các tài sản nêu trên nằm trong khu vực phạm vi 200m quy hoạch xây dựng đường tỉnh 293 quy định tại Quyết định số: 651/QĐ-UBND ngày 04/12/2013 của UBND tỉnh Bắc Giang, tại Điểm a, Khoản 6, Điều 1: “Phê duyệt quy hoạch xây dựng dọc hai bên tuyến đường tỉnh 293 (đoạn từ thành phố Bắc Giang đến điểm giao với Quốc lộ 279) tỉnh Bắc Giang đến năm 2030, với nội dung sau”

a) Quy định về quản lý xây dựng:

- Các đô thị: Quản lý xây dựng theo quy hoạch chung đã được UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt.

- Các xã nằm trong vùng lập quy hoạch: Ngoài các khu chức năng chính được xác định theo quy hoạch này không cho phép tiếp tục xây dựng các khu chức năng bám dọc ĐT293, ĐT299, ĐT299B. Đường vành đai 5, đường vào chùa V, ĐT291 và các tuyến đường liên huyện.

- Đối với các xã chưa lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới khi lập quy hoạch nhà ở chia lô và các khu chức năng phải cách tim ĐT 293 tối thiểu 500m đối với đoạn từ phía Nam TP. Bắc Giang đến QL37; tối thiểu 300m đối với đoạn từ QL37 đến xã Nghĩa Phương và tối thiểu 200m đối với đoạn từ xã Nghĩa Phương đến Ql279. Trong trường hợp hành lang khống chế quản lý xây dựng đi vào khu vực dân cư hiện trạng, công trình công cộng, khu công nghiệp … thì hành lang quản lý xây dựng sẽ điều chỉnh bao gồm hết khu dân cư, toàn bộ diện tích khu đất xây dựng công trình công cộng, khu công nghiệp….”.

Việc xây dựng này vi phạm Luật Xây dựng năm 2014, tại Khoản 4, Điều 12: “Các hành vi bị nghiêm cấm” được quy định như sau: “Xây dựng công trình không đúng quy hoạch xây dựng, trừ trường hợp có giấy phép xây dựng có thời hạn; vi phạm chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng; xây dựng công trình không đúng với giấy phép xây dựng được cấp”.

Việc không lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với công trình mới xây dựng là đúng với quy định của:

- Luật đất đai 2013, tại Khoản 2, Điều 92: “Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất” được quy định như sau: “Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật …”.

- Quyết định số: 869/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND tỉnh Quy định một số điểm cụ thể về thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, tại Khoản 3, Điều 12: “Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất Nhà nước thu hồi” được quy định như sau: “Đối với công trình xây dựng khác không còn giá trị sử dụng, các công trình xây dựng không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này và các trường hợp theo quy định tại Điều 92 Luật Đất đai thì không được bồi thường, hỗ trợ; chủ tài sản có trách nhiệm di chuyển giải phóng mặt bằng”.

- Quyết định số: 07/2018/QĐ-UBND ngày 16/4/2018 của UBND tỉnh Bắc Giang Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định một số điểm cụ thể về thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và Phụ lục kèm theo Quyết định số: 869/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND tỉnh, tại Khoản 5, Điều 1: “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định một số điểm cụ thể về thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số: 869/2014/QĐ- UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh như sau” được quy định như sau: “Bổ sung khoản 3a vào sau Khoản 3 Điều 22 như sau: “3a. Nhà, công trình khác không được phép xây dựng nhưng đã xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất, khi xây dựng không bị lập biên bản ngăn chặn, xử lý của cấp có thẩm quyền thì được hỗ trợ như sau: Tạo lập trước ngày 01/7/2004 được hỗ trợ bằng 80% mức bồi thường; Tạo lập từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 được hỗ trợ bằng 50% mức bồi thường; Tài sản tạo lập không hợp pháp từ ngày 01/7/2014 thì không bồi thường, không hỗ trợ, chủ tài sản phải tự di chuyển, bàn giao mặt bằng”.

Việc không lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với công trình mới xây dựng là đúng với các quy định trên.

Không bồi thường khi thu hồi đất ở (kể cả đất vườn) trong phạm vi 5,0m tính từ mép ngoài cùng của nền đường Đườ ng tinh̉ 293 (đoạn qua địa bàn huyện SĐ với quy mô chưa cải tạo, nâng cấp) để xây dựng Đườ ng tinh 293 nhưng chỏ phép xem xét hỗ trợ đối với tài sản hợp pháp trên đất ở trong phạm vi này cần phải tháo dỡ, di chuyển để xây dựng Đườ ng tinh 293; cho phép xem xét hỗ trợ̉ cho các hộ phải tháo dỡ công trình phụ để di dời , xây dựng công trình chính phục vụ tái định cư tại chỗ để xây dựng Đườ ng tinh 293. Đối với các loại đất̉ khác, UBND huyện SĐ thực hiện bồi thường, hỗ trợ theo quy định”. Bởi vì:

Tại công văn số 2476/SGTVT-QLCL ngày 12/9/2016 làm rõ lịch sử hình thành Đường tỉnh 293: Đường tỉnh 293 được hình thành trước năm 1982. Ngày 12/4/1993, UBND tỉnh Hà Bắc có QĐ 426/CT giao cho Sở Giao thông quản lý đường bộ trong tỉnh trong đó có Đườ ng tinh 293 đoạn Tiên Hưng - Mai Sưu và̉ Đường tỉnh 269 (Mai Sưu -Hạ My ); ngày 03/6/1995, UBND tỉnh Hà Bắc có Quyết đi ̣nh số 52/UB đổi tên đường 269 (Mai Sưu - Hạ My) thành đường 289; ngày 10/01/2006 UBND tỉnh Bắc Giang có Quyết đi ̣nh số 03/2006/QĐ-UBND sát nhập đường 289 vào thành Đường tỉnh lộ 293.

Hành lang an toàn đường bộ Đường tỉnh 293 đoạn qua địa phận huyện SĐ. Đoạn T-Th-L Đường tỉnh 293 cũ hiện trạng trước khi nâng cấp cải tạo là đường đất, phục vụ dân sinh và lâm nghiệp có bề rộng nền đường từ 3m-5m đi lại rất khó khăn (tương đương đường giao thông nông thôn loại A). Các hộ dân dọc hai bên đường được cấp GCNQSD đất từ khoảng năm 2000; theo quy định tại Điều 5 Nghị định 172/1999/NĐ-CP ngày 07/02/1999 và Điều 14, 15 Nghị định 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 của Chính phủ và các quy định hiện hành về quản lý hành lang đường bộ, hành lang an toàn giao thông đường bộ tính từ chân ta luy nền đắp và mép đỉnh mái đường đào hoặc mép ngoài của rãnh dọc bằng một thân đường, để đảm bảo lợi ích của nhân dân và hiện trạng tuyến đường thống nhất hành lang an toàn giao thông là 5m.

Như vậy lịch sử Đường tỉnh 293 đã có từ trước; việc cấp GCNQSD đất sau mà không trừ hành lang theo quy định của các NĐ 172 và NĐ 11 là sai, các GCNQSD đất diện tích sử dụng cơ bản của các hộ là lớn hơn diện tích ghi trong GCNQSD đất của các hộ và không ghi rõ đâu là đất thổ cư (đất ở), sơ đồ thửa đất không ghi trừ hành lang hay không. Như vậy phần diện tích đất sử dụng vào làm đườ ng và hàng lang giao thông không nằm trong GCNQSD đất của các hộ mà các hộ đã làm các công trình và tài sản cây cối... lên phần đất hành lang giao thông do vậy không có quyết định thu hồi và không được bồi thường, đền bù về đất. Vì phần đất này không nằm trong GCNQSD đất của các hộ.

2. Vụ án của ông Nghiêm Đinh M.̀

Giấy CNQSD đất cấp 25/5/ 2000 có tổng diện tích là 3.780,9 m2, đất thổ cư là 720,0m2, đất TCLN là 3.060,9 m2. Diện tích được bồi thường là 109,3 m2. Diện tích nằm trên hàng lang an toàn giao thông là 212,5 m2. Như vậy diện tích 212,5 m2 là thuộc diện tích nằm trên hàng lang an toàn giao thông không nằm trong GCNQSD đất của ông: Nghiêm Đinh M do vậy không được bồi thường và

̀

cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích gì của gia đình nhà ông Nghiêm Đinh M. ̀

Đường tỉnh 293 được hình thành trước năm 1982; từ năm 1983-1985 đã được thi công cải tạo, nâng cấp đoạn từ Mai Sưu đi Hạ My. Ngày 03/6/1995 UBND tỉnh Hà Bắc có QĐ số 52/QĐ-UB đặt tên đoạn đường từ Mai Sưu - Hạ My thành Đường tỉnh 289. Ngày 10/01/2006, UBND tỉnh Bắc Giang có Quyết đi ̣nh số 03/2006/QĐ-UBND sát nhập Đườ ng tinh 289 (Mai Sưu - Hạ My) và̉ Đường tỉnh 293 (Tiên Hưng-Mai Sưu) thành Đườ ng tinh 293, do vậy không̉ được bồi thường và cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích gì của gia đình ông Nghiêm Đinh M.

̀

Các công trình trên đất:

UBND huyê ̣n căn cứ các văn bản quy đi ̣nh của nhà nướ c như sau:

Ngày 03/11/2011, UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Công văn số 56/UBND-KTN về việc tăng cường công tác quy hoạch, quản lý đất dọc hai bên Đường tỉnh 293 và các tuyến nhánh vào Tây Yên Tử. Chùa V;

Ngày 29/8/2011, UBND huyện SĐ ban hành Thông báo số 07/TB-UBND về việc tạm dừng việc lập các thủ tục về giao đất, cấp GCNQSD đất, chuyển nhượng, tách thửa đất đối với các thửa đất liên quan phạm vi thu hồi đất dự án đầu tư xây dựng công trình: Cải tạo, nâng cấp đường tỉnh 293 và các tuyến nhánh vào Tây Yên Tử huyện SĐ.

Ngày 04/12/2013, UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số: 651/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng dọc hai bên tuyến đường tỉnh 293 (đoạn từ thành phố Bắc Giang đến điểm giao với Quốc lộ 279) tỉnh Bắc Giang đến năm 2030.

Tháng 2/2016, hộ gia đình ông xây dựng ngôi nhà cấp 4 (dài: 8,9m, rộng 6,15m, bán mái dài: 6,2m, rộng 3,05m) cách tim đường 14m.

Tháng 7/2016, hộ gia đình ông xây dựng nhà xưởng lợp tôn (dài: 15,4m, rộng 9m) cách tim đường 14m; xây dựng tường rào cay xỉ dài 44m cách tim đường 5m.

Tháng 8/2016, hộ gia đình ông xây dựng công trình dạng bể xây cay xỉ, trát vữa 2 mặt (dài: 14,9m, rộng 8,35m, cao 1,4m ) cách tim đường 14m.

Các tài sản nêu trên nằm trong khu vực phạm vi 200m quy hoạch xây dựng đường tỉnh 293 quy định tại Quyết định số: 651/QĐ-UBND ngày 04/12/2013 của UBND tỉnh Bắc Giang, tại Điểm a, Khoản 6, Điều 1: “Phê duyệt quy hoạch xây dựng dọc hai bên tuyến đường tỉnh 293 (đoạn từ thành phố Bắc Giang đến điểm giao với Quốc lộ 279) tỉnh Bắc Giang đến năm 2030, với nội dung sau”

a) Quy định về quản lý xây dựng:

- Các đô thị: Quản lý xây dựng theo quy hoạch chung đã được UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt.

- Các xã nằm trong vùng lập quy hoạch: Ngoài các khu chức năng chính được xác định theo quy hoạch này không cho phép tiếp tục xây dựng các khu chức năng bám dọc ĐT293, ĐT299, ĐT299B. Đường vành đai 5, đường vào chùa V, ĐT291 và các tuyến đường liên huyện.

- Đối với các xã chưa lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới khi lập quy hoạch nhà ở chia lô và các khu chức năng phải cách tim ĐT 293 tối thiểu 500m đối với đoạn từ phía Nam TP. Bắc Giang đến QL37; tối thiểu 300m đối với đoạn từ QL37 đến xã Nghĩa Phương và tối thiểu 200m đối với đoạn từ xã Nghĩa Phương đến QL279. Trong trường hợp hành lang khống chế quản lý xây dựng đi vào khu vực dân cư hiện trạng, công trình công cộng, khu công nghiệp … thì hành lang quản lý xây dựng sẽ điều chỉnh bao gồm hết khu dân cư, toàn bộ diện tích khu đất xây dựng công trình công cộng, khu công nghiệp….”.

Việc xây dựng này vi phạm Luật Xây dựng năm 2014, tại Khoản 4, Điều 12: “Các hành vi bị nghiêm cấm” được quy định như sau: “Xây dựng công trình không đúng quy hoạch xây dựng, trừ trường hợp có giấy phép xây dựng có thời hạn; vi phạm chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng; xây dựng công trình không đúng với giấy phép xây dựng được cấp”.

Việc không lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với công trình mới xây dựng là đúng với quy định của:

- Luật đất đai 2013, tại Khoản 2, Điều 92: “Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất” được quy định như sau: “Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật …”.

- Quyết định số: 869/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND tỉnh Quy định một số điểm cụ thể về thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, tại Khoản 3, Điều 12: “Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất Nhà nước thu hồi” được quy định như sau: “Đối với công trình xây dựng khác không còn giá trị sử dụng, các công trình xây dựng không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này và các trường hợp theo quy định tại Điều 92 Luật Đất đai thì không được bồi thường, hỗ trợ; chủ tài sản có trách nhiệm di chuyển giải phóng mặt bằng”.

- Quyết định số: 07/2018/QĐ-UBND ngày 16/4/2018 của UBND tỉnh Bắc Giang Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định một số điểm cụ thể về thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và Phụ lục kèm theo Quyết định số: 869/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND tỉnh, tại Khoản 5, Điều 1: “Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định một số điểm cụ thể về thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số: 869/2014/QĐ- UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh như sau” được quy định như sau: “Bổ sung khoản 3a vào sau Khoản 3 Điều 22 như sau: “3a. Nhà, công trình khác không được phép xây dựng nhưng đã xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất, khi xây dựng không bị lập biên bản ngăn chặn, xử lý của cấp có thẩm quyền thì được hỗ trợ như sau: Tạo lập trước ngày 01/7/2004 được hỗ trợ bằng 80% mức bồi thường; Tạo lập từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 được hỗ trợ bằng 50% mức bồi thường; Tài sản tạo lập không hợp pháp từ ngày 01/7/2014 thì không bồi thường, không hỗ trợ, chủ tài sản phải tự di chuyển, bàn giao mặt bằng”. Hiê ̣n nay cá c công trinh của hộ ông M

̀ vẫn cò n nguyên không bồi thườ ng đến mà ông M vẫn đang sử dụng.

Việc không lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với công trình mới xây dựng là đúng với các quy định trên.

UBND huyê ̣n đề nghi ̣ Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang bác đơn khởi kiện của ông Nghiêm Đinh M giữ nguyên nô ̣i dung công văn số 822/UBND-KT,

̀ ngày 20/6/2019 về viê ̣c giải quyết đề nghi ̣ được bồi thườ ng đất và viê ̣c lâ ̣p hồ sơ GPMB(giải phóng mặt bằng) liên quan mô ̣t số tài sản của ông Nghiêm Đinh

̀ M, trú tại thôn Đ , thị trấn T, huyện SĐ, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của của ông Nghiêm Đinh M. Lý do: Đường tỉnh 293 có trước năm

̀

1982, Nghị định 172/1999 ngày 07/12/1999 của chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh bảo vệ công trình giao thông đường bộ đã quy định về hành lang giao thông. Trên thực tế, việc thực hiện giải tỏa hành lang giao thông đã được quy định tại Nghị định 203/HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng bộ trưởng, đối với các tuyến quốc lô, tỉnh lộ đều phải thực hiện giải tỏa hành lang giao thông sang mỗi bên tính từ chân đường (đối với quốc lộ 20m, tỉnh lộ 10m). Năm 1983, UBND tỉnh Hà Bắc ban hành chỉ thị 13/CT-UB hướng dẫn thực hiện Nghị định 203/HĐBT giao cho các địa phương tổ chức giải tỏa hành lang giao thông (tháo rỡ nhà cửa, cây cối trong hành lang) với chỉ giới bước một của các tuyến Đường tỉnh là 5m từ chân đường. Theo quy định tại Nghị định 172/1999/NĐ-CP ngày 07/12/1999 của Chính phủ thì đường liên thôn, liên xã áp dụng mức hành lang không nhỏ hơn bề rộng một thân đường (tương ứng khoảng 5m từ chân đường).

Nội dung bổ sung : Ra Quyết đi ̣nh thu hồi hủ y bỏ Quyết đi ̣nh cƣơng

̃ chế số 2410/QĐ-UBND ngày 23/7/2019 và bồi thƣờng danh dự ; trả lại GCNQSD đấ t.

UBND huyê ̣n không ra Quyết đi ̣nh thu hồi hủy bỏ Quyết đi ̣nh cưỡng chế số 2410/QĐ-UBND ngày 23/7/2019 vì trong nội dung quyết định cưỡng chế tại điều 1 đa nêu rõ

̃ các nô ̣i dung áp du ̣ng biê ̣n pháp cưỡng chế thu hồi đất và tháo dỡ tài sản trên đất và thờ i gian tổ chứ c thực hiê ̣n từ ngày 08/8/2019 đến ngày 19/8/2019.

Ngày 07/8/2019 Ban cưỡng chế đến từ ng gia đinh bi ̣ cưỡng chế vâ ̣n đô ̣ng

̀ lần cuối thi gia đình ông đa thỗ

́ng nhất nhâ ̣n tiền và có biên bản bàn giao mă ̣t

̀ bằng cho chủ đầu tư thi công do vâ ̣y UBND huyê ̣n không ra Quyết đi ̣nh thu hồi hủy bỏ Quyết định cưỡng chế và cũng không có gì phải bồi thường danh dự cho gia đinh ông.

̀

Viê ̣c ông yêu cầu trả la ̣i

GCNQSD đất cho gia đinh ông ; hiê ̣n nay

̀ GCNQSD đất của ông đang giữ ta ̣i văn phòng đăng ký QSD đất huyê ̣n SĐ; do vẫn còn có đơn khở i kiê ̣n chưa sử lý xong do vâ ̣y văn phòng đăng ký QSD đất chưa có kết luâ ̣n cuối cùng về viê ̣c giải quy ết do vậy chưa làm thủ tục cấp điều chỉnh biến động giảm được do đó chưa trả lại cho gia đình ông được.

2. Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang có văn bản trình bày ngày 12/7/2019 (BL 215):

1. Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết khiếu nại

Sau khi UBND huyện SĐ có Quyết định số: 270/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 về thu hồi đất và Quyết định số: 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 về phê duyệt phương án bồi thường thực hiện Dự án cải tạo, nâng cấp đường 293, ông M không nhất trí với Quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường đã có đơn khiếu nại và được Chủ tịch UBND huyện SĐ giải quyết khiếu nại (lần đầu) tại Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018. Không nhất trí, ông M khiếu nại tới Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh đã giải quyết khiếu nại (lần hai) tại Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019.

Như vậy, việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Chủ tịch UBND huyện SĐ tại Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018 và việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của Chủ tịch UBND tỉnh tại Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 là đúng trình tự, đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1, Điều 18, khoản 2, Điều 21 Luật Khiếu nại và Điều 204 Luật Đất đai năm 2013.

2. Căn cứ pháp lý giải quyết

2.1. Căn cứ thu hồi đất

Theo quy định tại Điều 63 Luật Đất đai năm 2013 (Thông báo Kết luận số 162/TB-VPCP ngày 14/6/2010 của Văn phòng Chính phủ về việc Thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bắc Giang; Kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của huyện SĐ được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số: 72/QĐ-UB ngày 07/02/2017; tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án tại Quyết định số: 1738/QĐ-UBND ngày 01/11/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh về phê duyệt lại Dự án đầu tư xây dựng và kế hoạch đấu thầu công trình cải tạo, nâng cấp đường 293).

2.2. Căn cứ lập phương án bồi thường GPMB

- Về giá đất: Đất hộ ông M bị thu hồi thuộc vị trí các đoạn đường ngõ phố còn lại trong thị trấn, ông M được bồi thường 300.000đ/m2 theo giá đất cụ thể quy định tại: khoản 3 và mục đ, khoản 4, Điều 114 Luật Đất đai; khoản 1, Điều 11 Quyết định số: 869/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND tỉnh ban hành Quy định một số điểm cụ thể về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang; tiết 1.2.1 điểm 1.2 khoản 1, Điều 1 Quyết định số: 391/QĐ-UBND ngày 11/7/2017 của UBND tỉnh về phê duyệt giá đất tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện một số dự án trên địa bàn huyện SĐ.

- Về diện tích 109,3m2 đất được bồi thường: là diện tích được đo đạc thực tế theo quy định tại khoản 1, Điều 5 Bản quy định ban hành kèm theo Quyết định số: 869/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND tỉnh ban hành quy định một số điểm cụ thể về thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

- Về loại đất thu hồi: là đất ở được xác định theo quy định tại khoản 1, Điều 11 Luật Đất đai năm 2013 (xác định loại đất theo Giấy CNQSD đất đã cấp).

- Về bồi thường tài sản trên đất: được thực hiện theo quy định tại Điều 12 và Điều 15 Quyết định số: 869/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của UBND tỉnh.

3. Một số nội dung liên quan đến kết quả xác minh

3.1. Tóm tắt nội dung khiếu nại

Ông M cho rằng gia đình ông đang sử dụng đất đã được cấp giấy CNQSD đất, UBND huyện SĐ thu hồi đất của gia đình ông để cải tạo, nâng cấp đường 293 nhưng gia đình ông không được bồi thường diện tích 151,7m2 đất thuộc thửa 15 và diện tích 22,9m2 thuộc thửa 24, tờ bản đồ số 33; không được bồi thường tài sản (gồm bể xây gạch, nhà xưởng lợp tôn, nhà cấp 4); không nhất trí với giá bồi thường đất ở 300.000đồng/m2 vì phần đất ông bị thu hồi tiếp giáp với đường 293, không thuộc các đoạn đường ngõ phố còn lại trong thị trấn.

Ông M khiếu nại Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018 của Chủ tịch UBND huyện SĐ về giải quyết khiếu nại của ông.

3.2. Nguồn gốc đất, quá trình sử dụng thửa đất ông M khởi kiện

Ông M cho biết: Gia đình ông nguyên quán tại thôn Đồng Tu, xã An Đồng, huyện Duyên Hà (nay là Hưng Hà), tỉnh Thái Bình. Năm 1966, gia đình ông lên xã (nay là thị trấn) T, huyện SĐ khai hoang đất để ở (chính thửa đất đang khiếu nại) liên tục đến nay, trên đất có nhà ở, công trình phụ và trồng cây lâu năm.

Thực hiện Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg ngày 01/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp đẩy mạnh việc hoàn thành cấp giấy CNQSD đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở nông thôn vào năm 2000. Trên cơ sở đề nghị của ông M, thửa đất đang có khiếu nại đã được UBND huyện SĐ cấp Giấy CNQSD đất số sê ri Q619153, ngày 25/5/2000 mang tên ông Nghiêm Đình M diện tích 3.780m2 (gồm đất ở 720m2, đất trồng cây lâu năm 3.060m2) thuộc thửa số 42, tờ bản đồ số 01, trên giấy CNQSD đất có thể hiện sơ đồ diện tích 3.780m2 đất, không thể hiện hành lang đường giao thông. Trong quá trình sử dụng đất, hộ ông M có chuyển nhượng cho hộ bà Vũ Thị Lê 190m2 (gồm 50m2 đất ở và 140m2 đất trồng cây lâu năm, đã chỉnh lý trên trang 4 giấy CNQSD đất theo quy định). Theo bản đồ địa chính thị trấn T đo đạc năm 2010, đất ông M được cấp giấy CNQSD đất nêu trên được thể hiện tại 02 thửa, tờ bản đồ số 33, gồm: thửa 15, diện tích 2.335,9m2 và thửa 24, diện tích 1.236,5m2.

Ngày 31/3/2015, Chủ tịch UBND tỉnh có Công văn số 757/UBND-GT về giải phóng mặt bằng đường 293 đoạn qua địa bàn huyện SĐ, nội dung: Yêu cầu UBND huyện SĐ rà soát việc cấp giấy CNQSD đất dọc đường 293 (đường Mai Sưu - Hạ My), thực hiện điều chỉnh những giấy CNQSD đất được cấp không đúng quy định của Luật Đất đai tại thời điểm cấp… Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch UBND huyện SĐ có Kết luận số 307/KL-UBND ngày 13/4/2017 về thanh tra việc chấp hành pháp luật đất đai đối với UBND các xã: Y, T1, TH và thị trấn T. Kết luận có nội dung: Thu hồi 173 giấy CNQSD đất đã cấp cho các hộ gia đình, cá nhân tại các xã: Y, T1, TH và thị trấn T để cấp đổi lại 173 giấy CNQSD đất, chỉnh lý toàn bộ sơ đồ thửa đất theo hiện trạng sử dụng đất, ghi chỉ giới hành lang an toàn giao thông theo quy định, chỉnh lý các sai sót trên giấy CNQSD đất theo quy định; giao UBND các xã: Y, T1, TH và thị trấn T phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tham mưu thu hồi và chỉnh lý các sai sót trên giấy CNQSD đất của từng hộ gia đình, cá nhân, đồng thời cấp đổi lại theo quy định của pháp luật.

Trong 173 giấy CNQSD đất cấp không đúng quy định chủ yếu do không thể hiện khoảng cách hành lang giao thông, không ghi số vào sổ cấp giấy CNQSD đất. Trong số 173 giấy CNQSD đất đã cấp sai phạm thì có 13 trường hợp cấp cho các hộ sử dụng đất tại thôn Đ, thị trấn T, trong đó có trường hợp cấp cho ông Nghiêm Đình M.

Thanh tra huyện SĐ đã 03 lần đôn đốc tại các Văn bản: số 14/CV-TTr ngày 04/7/2017, số 20a/CV-TTr ngày 20/7/2017, số 10/CV-TTr ngày 19/9/2017 thực hiện Kết luận thanh tra, yêu cầu các đơn vị liên quan tham mưu UBND huyện xử lý 173 giấy CNQSD đất nêu trên, nhưng đến nay chưa thực hiện.

3.3. Diễn biến vụ việc, kết quả giải quyết của Chủ tịch UBND huyện

Năm 2017, UBND huyện thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường giải phóng mặt bằng liên quan một số hộ sử dụng đất tại thôn Đ, thị trấn T, trong đó có hộ ông M để thực hiện Dự án cải tạo, nâng cấp đường 293, không nhất trí với phương án bồi thường, không nhận tiền bồi thường, ông M khiếu nại tới UBND huyện. Trên cơ sở đề xuất của Tổ xác M tại Báo cáo số 01/BC-TXM ngày 01/02/2018, Chủ tịch UBND huyện SĐ có Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018 về giải quyết khiếu nại của ông M, nội dung: “Bác nội dung khiếu nại của ông Nghiêm Đình M. Việc lập phương án đối với diện tích đất ở của hộ gia đình ông Nghiêm Đình M với đơn giá là 300.000đồng/m2 và không thực hiện bồi thường các công trình xây dựng vi phạm là đúng quy định, phù hợp với thực tế ”. Ông M không nhất trí, khiếu nại tới Chủ tịch UBND tỉnh.

3.4. Về thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường để thực hiện Dự án cải tạo, nâng cấp đường 293

Để thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp đường 293 và các tuyến nhánh vào Tây Yên Tử, chùa V, UBND huyện SĐ tổ chức trích đo chỉnh lý trên nền bản đồ địa chính đo đạc năm 2010 đối với các hộ để lập hồ sơ thu hồi đất. Theo đó, đất hộ ông M bị thu hồi tại 02 thửa, cụ thể:

- Thửa 15, diện tích 2.335,9m2, trong đó: diện tích đất nằm trong chỉ giới bị giải phóng mặt bằng là 256m2 (gồm 104,3m2 đất ở và 151,7m2 là đất hành lang giao thông).

- Thửa 24, diện tích 1.236,5m2, trong đó: diện tích đất nằm trong chỉ giới bị giải phóng mặt bằng là 113,2m2 (gồm đất ở 5m2, đất trồng cây lâu năm 85,3m2 và diện tích 22,9m2 là đất hành lang giao thông).

Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng huyện SĐ căn cứ Công văn số 757/UBND-GT ngày 31/3/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh về giải phóng mặt bằng đường 293 đoạn qua địa bàn huyện SĐ đã xác định:

- Tại thửa 15: diện tích 151,7m2 đất trong phạm vi 5m từ mép đường hiện tại trở vào là đất hành lang giao thông và tài sản trên đất không được kiểm kê để lập phương án giải phóng mặt bằng; không có hồ sơ xử lý vi phạm về xây dựng công trình. Diện tích 104,3m2 xác định là đất ở và tài sản trên đất (tại biên bản kiểm kê ngày 16/12/2016) được lập phương án giải phóng mặt bằng theo quy định.

- Tại thửa 24: diện tích 22,9m2 đất trong phạm vi 5m từ mép đường hiện tại trở vào là đất hành lang giao thông và tài sản trên đất không được kiểm kê để lập phương án giải phóng mặt bằng; không có hồ sơ xử lý vi phạm về xây dựng công trình. Diện tích 5m2 xác định là đất ở và tài sản trên đất (tại biên bản kiểm kê ngày 16/12/2016) được lập phương án giải phóng mặt bằng.

Trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND huyện SĐ (tại Tờ trình số 526/TTr-UBND ngày 09/6/2017) và Sở Tài nguyên và Môi trường (tại Tờ trình số 412/TTr-TNMT ngày 27/6/2017), UBND tỉnh có Quyết định số: 391/QĐ-UBND ngày 11/7/2017 về việc phê duyệt giá đất tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện một số dự án trên địa bàn huyện SĐ, trong đó giá đất ở tại thị trấn T để bồi thường cho các hộ bị thu hồi đất làm đường 293 như sau:

- Đoạn từ ngã tư thị trấn đi TH đến hết đất nhà ông Nguyễn Văn Đg: vị trí 1 là: 1.100.000đ/m2.

- Đoạn từ hết đất nhà ông Nguyễn Văn Đg đến ngầm Đ: vị trí 1 là: 900.000đ/m2.

- Các đoạn đường ngõ phố còn lại trong thị trấn: vị trí 1 là: 300.000đ/m2.

Ngày 31/7/2017, UBND huyện SĐ có Quyết định số: 270/QĐ-UBND về thu hồi đất của 61 hộ gia đình, cá nhân để thực hiện Dự án cải tạo, nâng cấp đường 293, trong đó hộ ông M bị thu hồi tại 02 thửa đất nêu trên với tổng diện tích 109,3m2 đất ở (104,3m2 + 5m2), cụ thể:

- Tại thửa 15: nằm trong chỉ giới bị giải phóng mặt bằng là 256m2, trong đó thu hồi 104,3m2 đất ở (diện tích còn lại 151,7m2 không thu hồi do là đất hành lang giao thông).

- Tại thửa 24: nằm trong chỉ giới bị giải phóng mặt bằng là 113,2m2, trong đó thu hồi 5m2 đất ở (diện tích còn lại 85,3m2 đất trồng cây lâu năm hiện đang lập hồ sơ thu hồi, phê duyệt phương án bồi thường bổ sung và diện tích 22,9m2 không thu hồi do là đất hành lang giao thông).

Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng huyện xác định đất hộ ông M bị thu hồi diện tích 104,3m2 tại thửa 15 và diện tích 5m2 đất ở tại thửa 24 không thuộc đoạn: từ ngã tư thị trấn đi TH đến hết đất nhà ông Nguyễn Văn Đăng và từ hết đất nhà ông Nguyễn Văn Đg đến ngầm Đ. Nên đã lập phương án bồi thường cho hộ ông M với giá 300.000đ/m2 được xác định thuộc đoạn đường ngõ phố còn lại trong thị trấn theo Quyết định số: 391/QĐ-UBND ngày 11/7/2017 nêu trên.

Trên cơ sở đề xuất của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng, Chủ tịch UBND huyện SĐ có Quyết định số: 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 phê duyệt phương án bồi thường, trong đó hộ ông M được bồi thường tổng số tiền là 39.225.940đồng, gồm: đất ở 32.700.000đồng (109,3m2 x 300.000đồng); tài sản trên đất 6.525.940đồng. Không phê duyệt bồi thường diện tích 174,6m2 (151,7m2 + 22,9m2) nêu trên và tài sản trên đất (gồm bể xây gạch, nhà xưởng lợp tôn, nhà cấp 4).

4. Nội dung đã giải quyết của Chủ tịch UBND tỉnh tại Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019:

Thống nhất với Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018 của Chủ tịch UBND huyện SĐ giải quyết khiếu nại của ông M về nội dung: Việc lập phương án đối với diện tích đất ở của hộ gia đình ông Nghiêm Đình M với đơn giá 300.000đồng/m2 là đúng quy định, phù hợp với thực tế.

Chủ tịch UBND huyện SĐ có trách nhiệm tổ chức thực hiện dứt điểm Kết luận số 307/KL-UBND ngày 13/4/2017 kết luận thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai đối với các xã: Y, T1, TH và thị trấn T, huyện SĐ; giải quyết theo thẩm quyền nội dung ông Nghiêm Đình M đề nghị được bồi thường: diện tích 151,7m2 đất thuộc thửa số 15, diện tích 22,9m2 thuộc thửa số 24, tờ bản đồ số 33 và tài sản (gồm bể xây gạch, nhà xưởng lợp tôn, nhà cấp 4, tường rào) trên thửa đất số 15 và 24, tờ bản đồ số 33.

5. Quan điểm của người bị khởi kiện

5.1. Nội dung ông Nghiêm Đình M khiếu nại và được Chủ tịch UBND huyện xem xét, giải quyết, ông M không nhất trí, tiếp tục khiếu nại đã được Chủ tịch UBND tỉnh giải quyết theo thẩm quyền.

Nội dung ông Nghiêm Đình M khiếu nại nhưng chưa được Chủ tịch UBND huyện xem xét, giải quyết, Chủ tịch UBND tỉnh đã yêu cầu Chủ tịch UBND huyện giải quyết theo thẩm quyền.

5.2. Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh về giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đình M là khách quan, đúng quy định pháp luật.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giữ nguyên Quyết định nêu trên, bác yêu cầu khởi kiện của ông Nghiêm Đình M.

* Ủy ban nhân dân huyện SĐ: có quan điểm như quan điểm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ.

* Ủy ban nhân dân thị trấn T: Hộ gia đình ông Nghiêm Đình M có thửa đất số 24, tờ bản đồ số 33 với diện tích 1236,5m² (kể cả 5m hành lang) theo các hộ dân sinh sống gần cho biết gia đình ông M đang sử dụng thửa đất được bố đẻ là ông Nghiêm Đình Ng khai phá từ những năm 1970 để trồng sắn, đến khoảng năm 1998 đến năm 2009 ông M xây dựng gia đình thì ông Ng cho ông M ra ở riêng và làm nhà trên đất đó và sử dụng từ đó cho đến nay không có tranh chấp với ai, ông M cho biết đến năm 2000 thì được cấp giấy CNQSD đất (trong giấy chứng nhận không trừ hành lang giao thông). Từ lúc gia đình ông Ngọc bố đẻ ông M khai phá thửa đất hiện tại đang ở cho đến nay được gia đình sử dụng ổn định, không tranh chấp hay lấn chiếm.

Vậy qua xác M Ủy ban nhân dân thị trấn T nhận thấy về thời điểm sử dụng đất của hộ ông M là do các hộ dân sinh sống xung quanh đưa ra từ những năm 1970. Về phía Ủy ban nhân dân thị trấn T không có tài liệu, chứng cứ, giấy tờ liên quan theo Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Vậy nên Ủy ban nhân dân thị trấn không có cơ sở để xác định hộ ông M sử dụng đất từ thời điểm nào.

Đến nay Ủy ban nhân dân thị trấn không ban hành quyết định hành chính nào liên quan đến thửa đất.

* Bà Hoàng Thị Y nhất trí ý kiến ông M.

Trong quá trình thu thập chứng cứ và chuẩn bị xét xử, người bị kiện đã ban hành quyết định hành chính mới. Cụ thể;

- Quyết định số: 563/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của Ủy ban nhân dân huyện SĐ về việc phê duyệt điều chỉnh giảm phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, các nhân để thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp ĐT 293 và các tuyến nhánh tây Yên Tử; chùa V địa phận xã Tuấn Mậu, thị trấn T, xã TH, huyện SĐ (viết tắt là Quyết định số: 563/QĐ-UBND ngày 20/11/2019).

Quyết định có nội dung:

“Điều 1.

I. Điều chỉnh giảm diện tích tại các quyết định thu hồi đất đối với các hộ gia đình, cá nhân gồm:

- Đất ở đô thị: 500,6m²;

- Đất trồng cây lâu năm: 2.475,9m²;

- Đất trồng cây hàng năm: 83,0m².

Cụ thể:

1. Điều chỉnh giảm diện tích tại Quyết định số: 270/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của UBND huyện SĐ về việc thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân như sau:

…

b) Hộ ông Nghiêm Đình M trú tại thôn Đ, nay là thôn Thg, thị trấn T: Đất ở đô thị: 109,0m².

Lý do: Phạm vi thi công hiện nay chưa sử dụng hết phần diện tích thu hồi; còn vướng mắc, chưa thống nhất giữa hộ gia đình với Tổ công tác Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong việc áp dụng đơn giá lập phương án bồi thường đối với đất ở, chưa nhất trí việc không bồi thường đối với phần diện tích xác định là đất hành lang an toàn giao thông.

…

II. Phê duyệt điều chỉnh giảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ đối với các hộ gia đình, cá nhân với tổng số tiền: 666.989.792 đồng, gồm:

…1. Điều chỉnh giảm kinh phí bồi thường, hỗ trợ tại Quyết định số: 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của UBND huyện SĐ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của các hộ gia đình, cá nhân nhưu sau:

c) Hộ ông Nghiêm Đình M trú tại thôn Đ, nay là thôn Thg, thị trấn T: 39.157.300 đồng (chưa nhận tiền; đã bàn giao mặt bằng).

- Bồi thường về đất: 32.700.000 đồng;

- Bồi thường tài sản trên đất: 6.457.300 đồng”.

- Quyết định số: 4500/QĐ-UBND ngày 21/11/2019 của Chủ tịch UBND huyện SĐ Về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018 của Chủ tịch UBND huyện SĐ về giải quyết khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ (viết tắt là Quyết định số: 4500/QĐ-UBND ngày 21/11/2019) . Quyết định có nội dung:

“Điều 1. Thu hồi, hủy bỏ Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018 của Chủ tịch UBND huyện SĐ về giải quyết khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ.

Lý do: Nội dung thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của hộ gia đình ông tại Quyết định số: 270/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 và Quyết định số: 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 đã được điều chỉnh tại Quyết định số: 563/QĐ-UBND ngày 20/11/2019”.

- Quyết định số: 1944/QĐ-UBND ngày 22/112019 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang (viết tắt là Quyết định số: 1944/QĐ-UBND ngày 22/112019). Quyết định có nội dung:

“Điều 1. Thu hồi, hủy bỏ quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang.

Lý do: Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018 của Chủ tịch UBND huyện SĐ về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đinh M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ lần đầu đã bị thu hồi, hủy bỏ tại Quyết định số: 4500/QĐ-UBND ngày 21/11/2019 của Chủ tịch UBND huyện SĐ nên không còn đối tượng giải quyết theo qui định tại Điều 21 Luật khiếu nại năm 2011”.

- Quyết định số: 694/QĐ-UBND ngày 30/12/2019 của UBND huyện SĐ về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với hộ gia đình ông Nghiêm Đình M thường trú tại thôn Thg, thị trấn T để thực hiện dự án: Cải tạo, nâng cấp ĐT 293 (viết tắt là Quyết định số: 694/QĐ-UBND ngày 30/12/2019). Quyết định có nội dung:

“Điều 1. …..bồi thường tài sản trên đất là 24.368.800 đồng” .

- Tại phiên tòa ngày 18/12/2019 ông Nghiêm Đình M bổ sung yêu cầu khởi kiện và trình bày:

- Đề nghị Tòa án hủy quyết định cưỡng chế thu hồi đất;

- Diện tích đất 245m² mà UBND huyện SĐ lấy làm đường 293 của gia đình ông phải được bồi thường;

- Đề nghị Tòa án buộc người bị kiện phải bồi thường danh dự cho gia đình ông,

- Đề nghị UBND huyện SĐ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông.

Đối với sơ đồ giải phóng mặt bằng do UBND huyện SĐ lập ông đồng ý, không cần thiết phải xem xét, thẩm định tại chỗ lại.

Cũng tại phiên tòa ngày 18/12/2019 ông Nguyễn Ngọc Ng trình bày: Tòa án nhân dân Cấp cao đã bác yêu cầu khởi kiện của gần 20 người, vụ án ông Nghiêm Đình M cũng tương tự, đề nghị Tòa án tiếp tục bác yêu cầu khởi kiện của ông M.

Tại phiên tòa ngày 24/02/2020 ông M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và bổ sung thêm yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án: Hủy các quyết định hành chính sau:

- Quyết định số: 270/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Ủy ban nhân dân huyện SĐ;

- Quyết định số: 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Ủy ban nhân dân huyện SĐ;

- Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018 của Chủ tịch UBND huyện SĐ về việc giải quyết khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T (lần đầu) (viết tắt là Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018);

- Quyết định cưỡng chế số 2410/QĐ-UBND ngày 23/7/2019 của Chủ tịch UBND huyện SĐ.

- Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 179/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 của UBND huyện SĐ. Trả lại giấy CNQSD đất cho ông;

- Đề nghị UBND huyện SĐ được bồi thường danh dự cho gia đình ông.

- Nhà cấp 4 lợp mái tôn phải được bồi thường.

Căn cứ chứng M cho yêu cầu khởi kiện và yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông M như sau: Diện tích đất ông đang sử dụng có nguồn gốc do cha ông khai hoang từ khoảng năm 1966 đã được cấp giấy CNQSD đất, ông vẫn sử dụng ổn định, không tranh chấp. UBND huyện cho rằng giấy CNQSD đất cấp không đúng và ban hành Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 179/QĐ-UBND ngày 21/5/2019, ông đề nghị hủy quyết định này, hủy phần liên quan đến thu giấy của ông và trả lại giấy CNQSD đất cho gia đình ông;

Diện tích đất bị thu hồi của gia đình ông là 245m², nhưng Quyết định số: 270 lại ghi 109m² là không đúng.

Giá đất ông xác định là 650.000 đồng/m² đất ở. Nhưng Quyết định số: 277 chỉ xác định 300.000đồng/m² ông không đồng ý.

Chính vì vậy nên ông đề nghị hủy Quyết định số: 270/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 và Quyết định số: 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017, hủy phần liên quan đến diện tích đất của gia đình ông, các phần không liên quan ông không yêu cầu.

Quyết định số: 637 thống nhất với giá đất ở bị thu hồi là 300.000 đồng/m² ông không đồng ý.

Công văn số 822 không bồi thường diện tích đất ông bị thu hồi là trái pháp luật.

Đối với Quyết định cưỡng chế số 2410/QĐ-UBND ngày 23/7/2019, gia đình ông đã tự dỡ bỏ toàn bộ cây cối trên đất và bàn giao đất ngày 07/8/2019, nhưng không có quyết định thu hồi đất.

Đối với: Nhà cấp 4, nhà xưởng lợp tôn, bể xây gạch, bán mái nhà cấp 4. Hiện nay chưa bị tháo dỡ, ông vẫn đang sử dụng.

Lý do ông đề nghị bồi thường về danh dự vì năm 2017 và 2018 gia đình ông bị cắt gia đình văn hóa do không thực hiện Quyết định số: 270 và 277, nên ông đề nghị được bồi thường.

Ông đồng ý với sơ đồ thu hồi đất, chủ trương thu hồi đất của UBND huyện và không cần thiết phải xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngoài ra ông không yêu cầu gì thêm.

* Bà Nguyễn Thị Y nhất trí với ý kiến của ông M.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND huyện SĐ giữ nguyên ý kiến như văn bản đã nộp cho Tòa án, đồng thời trình bày:

Việc cấp giấy CNQSD đất cho hộ ông M không đúng. Chủ tịch UBND huyện SĐã ban hành kết luận thanh tra số 307 nêu rõ những nội dung cấp sai, trong đó không thể hiện hành lang an toàn giao thông, sai về diện tích. Do đó UBND huyện SĐã ban hành quyết định thu hồi giấy CNQSD số 179/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 để điều chỉnh lại giấy, tuyến nhiên ông M không hợp tác, không đến làm việc và ông M đang khiếu kiện, nên đến nay chưa cấp lại giấy cho ông M.

Giấy CNQSD đất cấp 25/5/ 2000 có tổng diện tích là 3.780,9 m2, đất thổ cư là 720,0m2, đất TCLN là 3.060,9 m2. Diện tích được bồi thường là 109,3 m2. Diện tích nằm trên hàng lang an toàn giao thông là 212,5 m2. Như vậy diện tích 212,5 m2 là thuộc diện tích nằm trên hàng lang an toàn giao thông không nằm trong GCNQSD đất của ông: Nghiêm Đinh M do vậy không được bồi thường và

̀

cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích gì của gia đình nhà ông Nghiêm Đinh M. ̀

Về tài sản trên đất: Ông M xây dựng sau khi có qui hoạch đường tỉnh 293 và có thông báo của UBND thị trấn T, nên không được bồi thường. Mặt khác, sau khi thực hiện dự án đến nay, các tài sản của ông M vẫn nguyên vẹn, Ủy ban không thu hồi đến diện tích đất này, không bị cưỡng chế, ông M vẫn đang sử dụng.

Đối với diện tích đất nằm trong chỉ giới hành lang an toàn giao thông, Chủ tịch UBND huyện SĐã ban hành quyết định cưỡng chế, đến ngày 07/8/2019 ông M đã tự nguyện bàn giao đất, nên không phải tiến hành cưỡng chế.

Sau khi UBND huyện ban hành Quyết định số: 563/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 thì đối tượng là diện tích đất bị thu hồi và phê duyệt phương án bồi thường tại Quyết định số: 270 và 277 không còn nữa. Nên Chủ tịch UBND huyện SĐ đã ban hành Quyết định số: 4500/QĐ-UBND ngày 21/11/2019 hủy bỏ, thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.

Đề nghị Tòa án căn cứ các bản án của Tòa án nhân dân Cấp cao đã xử 20 hộ gia đình, bác yêu cầu khởi kiện của ông M.

* Ông Phạm Văn H trình bày: UBND thị trấn không có căn cứ xác định nguồn gốc đất của ông Nghiêm Đình M. Nhất trí ý kiến tại văn bản của Chủ tịch UBND huyện SĐ.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng hành chính tại phiên tòa sơ thẩm. Các đương sự đã được Toà án cho thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng hành chính. Viện kiểm sát không kiến nghị gì về thủ tục tố tụng.

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, nghe thẩm vấn và tranh luận tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Nghiêm Đình M. Miễn án phí HCST cho ông M

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định.

NHÂN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 25/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số: 637/QĐ-UBND;

Ngày 20/6/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ ban hành công văn số 822/UBND-KT

Ngày 13/6/2019 ông Nghiêm Đình M nộp đơn khởi kiện yêu cầu hủy hai văn bản trên. Do đó xác định ông M nộp đơn khởi kiện trong thời hiệu khởi kiện theo qui định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính, nên chấp nhận để xem xét theo qui định.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Người khởi kiện là đề nghị tuyên bố:

- Hủy công văn số: 822/UBND-KT ngày 20/6/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ .

- Hủy bỏ khoản 1 Điều 1 Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ khoản 1 Điều 30 và Điều 32 của Luật tố tụng hành chính thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

[1.3]. Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông M: Ông M đề nghị Tòa án hủy các quyết định:

- Quyết định số: 270/QĐ-UBND ngày 31/7/2017;

- Quyết định số: 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017;

- Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018;

- Quyết định số: 2410/QĐ-UBND ngày 23/7/2019;

- Quyết định số: 179/QĐ-UBND ngày 21/5/2019;

Đây là các quyết định hành chính có liên quan đến quyết định hành chính bị kiện. Do đó Tòa án bắt buộc phải xem xét theo qui định kể cả ông M không yêu cầu.

[2]. Về nội dung:

Người khởi kiện là đề nghị tuyếnên bố:

- Hủy công văn số: 822/UBND-KT ngày 20/6/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ .

- Hủy bỏ khoản 1 Điều 1 Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ khoản 1 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính, Tòa án xem xét quyết định có liên quan là:

1. Quyết định số: 270/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Ủy ban nhân dân huyện SĐ;

2. Quyết định số: 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Ủy ban nhân dân huyện SĐ;

3. Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018 của Chủ tịch UBND huyện SĐ về việc giải quyết khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T (lần đầu);

3. Quyết định số: 2410/QĐ-UBND ngày 23/7/2019 của Chủ tịch UBND huyện SĐ, về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi đất, tháo dỡ tài sản trên đất đối với hộ gia đình ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án: Cải tạo, nâng cấp đường tỉnh 293 đoạn qua thị trấn T, xã TH, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang (viết tắt là Quyết định số: 2410/QĐ-UBND ngày 23/7/2019) và văn bản số: 1088/UBND-KT ngày 02/8/2019 của UBND huyện SĐ, về việc đính chính nội dung Quyết định số: 2410/QĐ-UBND ngày 23/7/2019 (viết tát là văn bản số: 1088/UBND-KT ngày 02/8/2019).

4. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 619153 của UBND huyện SĐ cấp ngày 25/5/2000, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số (không có số) cho hộ ông Nghiêm Đình M;

5. Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 179/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 của UBND huyện SĐ (viết tắt là Quyết định số: 179/QĐ-UBND ngày 21/5/2019);

6. Quyết định số: 563/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của Ủy ban nhân dân huyện SĐ về việc phê duyệt điều chỉnh giảm phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, các nhân để thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp ĐT 293 và các tuyến nhánh tây Yên Tử; chùa V địa phận xã Tuấn Mậu, thị trấn T, xã TH, huyện SĐ (viết tắt là Quyết định số: 563/QĐ-UBND ngày 20/11/2019);

7. Quyết định số: 4500/QĐ-UBND ngày 21/11/2019 của Chủ tịch UBND huyện SĐ về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018 của Chủ tịch UBND huyện SĐ về việc giải quyết khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T (viết tắt là Quyết định số: 4500/QĐ-UBND ngày 21/11/2019).

8. Quyết định số: 1944/QĐ-UBND ngày 22/11/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang (viết tắt là Quyết định số: 1944/QĐ-UBND ngày 22/11/2019).

9. Quyết định số: 694/QĐ-UBND ngày 30/12/2019 của Ủy ban nhân dân huyện SĐ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với hộ ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Thống Nhất, thị trấn T để thwucj hiện dự án: cải tạo, nâng cấp ĐT 293 (viết tắt là Quyết định số: 694/QĐ-UBND ngày 30/12/2019).

Do các quyết định hành chính số: 270/QĐ-UBND ngày 31/7/2017, 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017, 563/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 và 179/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 nêu trên liên quan đến nhiều người khác. Vì vậy Tòa án chỉ xem xét tính hợp pháp đối với phần liên quan đến ông Nghiêm Đình M khởi kiện. Còn các phần khác không liên quan đến ông M, Tòa án không xem xét.

Để đảm bảo tính thống nhất của bản án, Tòa án xem xét lần lượt các quyết định hành chính theo trình tự thời gian hoặc tính có liên quan của các quyết định.

[2.1]. Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành và nội dung của: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 619153 của UBND huyện SĐ cấp ngày 25/5/2000 và Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 179/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 của UBND huyện SĐ.

Trong quá trình thực hiện dự án thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng để xây dựng đường tỉnh 293, phát hiện ra việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông M có những sai sót. Chủ tịch UBND huyện SĐ đã xây dựng kế hoạch và thành lập đoàn thanh tra đột xuất thanh tra việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân dọc tuyến đường tỉnh 293. Đoàn Thanh đã tiến hành làm việc với ông Nghiêm Đình M, là người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy CNQSD đất với diện tích 3.780 m², trong đó có 720m² đất ở và 3060 m² đất trồng cây, thửa số 42 tại thôn Đ, Thanh, huyện SĐ, đoàn Thanh tra làm việc với Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai và UBND thị trấn T.

Tại kết luận Thanh tra số 307/KL-UBND ngày 13/4/2017 đã có kết luận việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông M là trái pháp luật, với lý do: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp không thể hiện chỉ giới hành lang an toàn giao thông đường bộ, không ghi số.

Do dó UBND huyện SĐ đã ban hành Quyết định số: 179/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hộ ông Nghiêm Đình M là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền qui định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật đất đai.

- Đối với giấy CNQSD đất số Q 619153 của UBND huyện SĐ cấp ngày 25/5/2000, đã được UBND huyện SĐ thực hiện đúng thẩm quyền. Tuyến nhiên về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chưa đảm bảo các qui định tại Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục Địa chính. Cụ thể: Không thông qua Hội đồng xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử sụng đất, không có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M, không có tài liệu nào thể hiện trình tự, thủ tục cấp giấy CNQSD đất cho ông M.

Không thể hiện khoảng cách về chỉ giới hành lang an toàn giao thông, không đúng qui định về bảo vệ công trình giao thông đối với công trình giao thông đường bộ qui định tại Nghị định số 172/1999/NĐ-CP ngày 07/12/1999 của Chính phủ, tại khoản 1 Điều 5 qui đinh: Giới hạn hành lang bảo vệ đối với đường:

“Đối với đường ngoài khu vực đô thị căn cứ cấp kỹ thuật của đường theo qui hoạch, tính từ mép chân mái đường đắp hoặc mép đỉnh mái đường đào hoặc từ mép ngoài rãnh dọc hoặc từ rãnh đỉnh của đường trở ra hai bên là 20m đối với đường cao tốc và đường cấp 1, cấp 2; 15 m đối với đường cấp 3; 10 m đối với đường cấp 4, cấp 5”.

- Không đúng qui định tại Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy CNQSD đất, tại phần III, mục I, điểm d qui định: “Thửa đất hoặc một phần thửa đất nằm trong qui hoạch chuyển sang sử dụng vào mục đích khác thì ghi chú vị trí, diện tích nằm trong qui hoạch chuyển mục đích sử dụng và thời gian thực hiện qui hoạch. Những ràng buộc trong hành lang an toàn giao thông, thủy lợi trên từng thửa đất”.

Do đó Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 179/QĐ-UBND ngày 21/5/2019 của UBND huyện SĐ đúng về mặt nội dung.

Ông Nghiêm Đình M đề nghị trả lại giấy CNQSD đất là không có căn cứ.

[2.2]. Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành và nội dung của: Quyết định số: 270/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 và Quyết định số: 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Ủy ban nhân dân huyện SĐ.

UBND huyện SĐ căn cứ vào Quyết định số: 1738/QĐ-UBND ngày 01/112010 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt lại dự án đầu tư xây dựng công trình: Cải tạo, nâng cấp Đường tỉnh 293 và các tuyến nhánh vào Tây Yên Tử, chùa V, tỉnh Bắc Giang; đã tiến hành lập hồ sơ, thông báo chủ trương thu hồi đất để thực hiện dự án, niêm yết danh sách diện tích đất bị thu hồi, thông báo kiểm kê hiện trang và lập biên bản kiểm kê tài sản trên đất. phát tờ khai cho các đối tượng có đất bị thu hồi, thông báo công khai phương án bồi thường; lập kế hoạch bồi thường giải phóng mặt bằng, lập biên bản về việc tuyếnên truyền, vận động người sử dụng đất nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng là đúng trình tự, thủ tục theo qui định tại Điều 69 của Luật đất đai.

Về thẩm quyền: UBND huyện SĐ ban hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường là đúng theo qui định tại khoản 2 Điều 66 của Luật đất đai.

Về nội dung: Theo các tài liệu do các bên cung cấp thể hiện diện tích đất bị thu hồi và được bồi thường là 194,6 m², diện tích đất nằm trong hành lang an toàn giao thông là 151,7m² không nằm trong giấy CNQSD đất không được bồi thường (Thửa số 15, tờ bản đồ địa chính số 33 ( thửa số 11, tờ bản đồ thực hiện kiểm kê số 35) là 256,0m2; trong đó: diện tích trừ hành lang an toàn giao thông theo Công văn 757/UBND-GT ngày 31/3/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh là: 151,7m2 diện tích này không được bồi thường; sau khi trừ hành lang an toàn giao thông gia đinh ông đượ̀

c bồi thường đất ở là: 104,3m2. Thửa số 24, tờ bản đồ địa chính số 33 ( thửa số 22, tờ bản đồ thực hiện kiểm kê số 35) là 113,2m2. Trong đó: diện tích trừ hành lang an toàn giao thông theo Công văn 757/UBND-GT ngày 31/3/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh là: 22,9m2 diện tích này không được bồi thường; sau khi trừ hành lang an toàn giao thông gia đinh ông đượ̀

c bồi thườngđất ở là: 5,0m2).

Qua xem xét rà soát hồ sơ bồi thường giải phóng mặt bằng đường tỉnh 293 đoạn qua huyện SĐ thấy trong tổng số các hộ dân có đất bị thu hồi có hộ có giấy CNQSD đất có hộ chưa có giấy CNQSD đất. Gia đình ông M có đất bị thu hồi đã có giấy CNQSD đất, nhưng trên giấy chưa có việc trừ hành lang giao thông diện tích sát mép đường hiện trạng.

Trong khi đó việc thực hiện giải tỏa hành lang giao thông đã được quy định từ Nghị định số 203/HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng theo đó đối với các tuyến quốc lộ đường tỉnh đều phải thực hiện giải tỏa hành lang giao thông. Năm 1983 UBND tỉnh Hà Bắc ban hành Chỉ thị số 13/CT-UB hướng dẫn thực hiện Nghị định số 203-HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng đã giao cho các địa phương giải tỏa hành lang giao thông. Theo quy định tại Nghị định số 172/1999/NĐ-CP ngày 07/12/1999 của Chính phủ thì đối với đường liên thôn, liên xã áp dụng mức hành lang không nhỏ hơn bề rộng một thân đường (tương ứng khoảng 5 m từ chân đường).

Theo báo cáo của Sở giao thông vận tải tại Công văn số 1212/SGTVT - QLGT ngày 30/6/2014: Đường tỉnh 293 được hình thành từ trước năm 1982; từ năm 1983 đến 1985 đã thi công cải tạo, nâng cấp đoạn từ Mai Sưu đi Hạ My. Ngày 03/6/1995, UBND tỉnh Hà Bắc có Quyết định số: 52/QĐ-UB đặt tên đoạn đường từ Mai Sưu - Hạ My thành đường tỉnh 289. Ngày 10/01/2006, UBND tỉnh Bắc Giang có Quyết định số: 03/2006/QĐ-UBND sáp nhập đường tỉnh 289 (Mai Sưu - Hạ My) và đường tỉnh 293 (Tiên Hưng - Mai Sưu) thành đường tỉnh 293.

Như vậy, từ thời điểm tuyến đường hình thành thì các quy định về chỉ giới hành an toàn giao thông đã có hiệu lực và do đó khi cấp giấy CNQSD đất, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét đến quy định về hành lang giao thông gắn với thực tế sử dụng đất của các hộ gia đình. Việc tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông M không trừ hành lang giao thông là do nhận thức, trình độ và chủ quan của cán bộ chuyên môn của UBND huyện SĐ. Do vậy, sau khi kiểm tra, thanh tra UBND huyện SĐ đã thu hồi để cấp đổi lại giấy CNQSD đất của hộ ông M qua đó đã trừ hành lang giao thông.

UBND huyện SĐ đã căn cứ vào số liệu thực tế bị thu hồi đất để bồi thường (sau khi trừ hành lang giao thông), không bồi thường phần đất thuộc hành lang giao thông. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp các quy định của pháp luật và theo quy định khoản 3 Điều 157 Luật đất đai 2013 và điểm a khoản 4 Điều 56 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai (áp dụng tại thời điểm thu hồi) thì đất và tài sản trên đất bị thu hồi được xem xét bồi thường nếu tạo lập trước thời điểm hành lang an toàn công cộng được công bố từ lịch sử hình thành đường tỉnh 293 (như phân tích phần trên).

Như vậy, UBND huyện SĐ không bồi thường phần đất hành lang giao thông là đúng quy định pháp luật.

* Đối với giá đất bồi thường. Căn cứ Quyết định số: 391/QĐ-UBND ngày 11/7/2017 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt giá đất tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện một số dự án trên địa bàn huyện SĐ, trong đó giá đất ở tại thị trấn T để bồi thường cho các hộ bị thu hồi đất làm đường 293 như sau:

- Đoạn từ ngã tư thị trấn đi TH đến hết đất nhà ông Nguyễn Văn Đg: vị trí 1 là: 1.100.000đ/m2.

- Đoạn từ hết đất nhà ông Nguyễn Văn Đg đến ngầm Đ: vị trí 1 là: 900.000đ/m2.

- Các đoạn đường ngõ phố còn lại trong thị trấn: vị trí 1 là: 300.000đ/m2.

Ngày 31/7/2017, UBND huyện SĐ có Quyết định số: 270/QĐ-UBND. Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng huyện xác định đất hộ ông M bị thu hồi diện tích 109,3m2 không thuộc đoạn: từ ngã tư thị trấn đi TH đến hết đất nhà ông Nguyễn Văn Đăng và từ hết đất nhà ông Nguyễn Văn Đăng đến ngầm Đ. Nên đã lập phương án bồi thường cho hộ ông M với giá 300.000đ/m2 được xác định thuộc đoạn đường ngõ phố còn lại trong thị trấn theo Quyết định số: 391/QĐ-UBND ngày 11/7/2017 là đúng qui định. Ông M cho rằng vị trí đất của gia đình ông phải được bồi thường ở mức giá 650.000 đồng/m² là không có căn cứ.

* Đối với tài sản trên đất: đất là nhà cấp 4, nhà xưởng lợp mái tôn, tường rào, bể xây cay của ông M được xây dựng từ tháng 2/2016 đến tháng 8/2016. Trước đó ngày 03/11/2011, UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Công văn số 56/UBND-KTN về việc tăng cường công tác quy hoạch, quản lý đất dọc hai bên Đường tỉnh 293 và các tuyến nhánh vào Tây Yên Tử, Chùa V;

Ngày 29/8/2011, UBND huyện SĐ ban hành Thông báo số 07/TB-UBND về việc tạm dừng việc lập các thủ tục về giao đất, cấp GCNQSD đất, chuyển nhượng, tách thửa đất đối với các thửa đất liên quan phạm vi thu hồi đất dự án đầu tư xây dựng công trình: Cải tạo, nâng cấp đường tỉnh 293 và các tuyến nhánh vào Tây Yên Tử huyện SĐ.

Ngày 04/12/2013, UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số: 651/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng dọc hai bên tuyến đường tỉnh 293 (đoạn từ thành phố Bắc Giang đến điểm giao với Quốc lộ 279) tỉnh Bắc Giang đến năm 2030.

Như vậy, ông M đã xây dựng ngôi nhà xưởng cơ khí trên thửa đất của gia đình ông nằm trong khu vực quy hoạch xây dựng đường tỉnh 293 đã được phê duyệt. Việc xây dựng này vi phạm Luật Xây dựng năm 2014, tại Khoản 4, Điều 12: “Các hành vi bị nghiêm cấm” được quy định như sau: “Xây dựng công trình không đúng quy hoạch xây dựng, trừ trường hợp có giấy phép xây dựng có thời hạn; vi phạm chỉ giới xây dựng, cốt xây dựng; xây dựng công trình không đúng với giấy phép xây dựng được cấp”.

Tại Khoản 2, Điều 92 của Luật đất đai qui định: “Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất” được quy định như sau: “Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Nội dung Quyết định số: 270/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 và Quyết định số: 277/QĐ-UBND ngày 31/7/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Sơn là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, ông M khởi kiện bổ sung đề nghị UBND huyện SĐ phải bồi thường danh dự cho gia đình ông, do UBND huyện SĐ ban hành Quyết định số: 270 và 277 trái pháp luật, nên 2 năm 2017 và 2018 gia đình ông không được gia đình văn hóa. Xét thấy: Như đã nhận định ở phần trên, các Quyết định số: 270 và 277 được ban hành đúng qui định, ông M yêu cầu bồi thường là không có căn cứ, nên không chấp nhận yêu cầu này của ông M. Mặt khác yêu cầu này của ông M cũng vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu.

[2.3]. Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành và nội dung của: Quyết định số: 606a/QĐ-UBND ngày 02/02/2018.

Ông M không đồng ý với việc không được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, ngày 10/12/2017 ông M đã khiếu nại việc này và đề nghị được bồi thường về đất và tài sản trên đất.

Sau khi nhận được đơn khiếu nại. Chủ tịch UBND huyện SĐ đã cho thụ lý đơn khiếu nại và ra Thông báo thụ lý đơn khiếu nại, đồng thời ban hành quyết định về việc xác M đơn khiếu nại, phân công nhiệm vụ xác M đơn khiếu nại, ban hành kế hoạch xác M nội dung khiếu nại, giao cho tổ công tác tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, làm việc với người khiếu nại, tổ công tác đã làm báo cáo kết quả xác M đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đình M và ban hành quyết định về việc giải quyết khiếu nại là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo qui định tại các Điều: 27, 29, và 31 của Luật khiếu nại. Tuyến nhiên trong quá trình giải quyết khiếu nại, Chủ tịch UBND huyện Sơn Đồng không tổ chức đối thoại cần rút kinh nghiệm.

Về nội dung: Như đã nhận định ở phần trên, diện tích đất ông M khiếu nại là đất thuộc hành lang an toàn giao thông, do đó không được bồi thường. Vì vậy Chủ tịch UBND huyện SĐ đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại không chấp nhận yêu cầu bồi thường cho ông M là đúng về mặt nội dung.

[2.4]. Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành và nội dung của: Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019.

Không đồng ý với quyết định Quyết định số: 606a/QĐ-UBND, ông M tiếp tục khiếu nại lên Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang.

Chủ tịch UBND tỉnh đã cho thụ lý đơn của ông M và tiến hành các thủ tục xác M, làm việc với những người có liên quan, người làm chứng, tổ chức đối thoại và ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo qui định tại các Điều 38, 39 và 40 của Luật khiếu nại.

Về nội dung: Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 03/5/2019. Như đã nhận định ở phần trên, diện tích đất ông M khiếu nại là đất thuộc hành lang an toàn giao thông, do đó không được bồi thường. Ông M không cung cấp được tài liệu gì mới. Vì vậy Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại không chấp nhận yêu cầu bồi thường cho ông M là đúng về mặt nội dung.

Tuyến nhiên quyết định giải quyết khiếu nại số 637/QĐ-UBND đã yêu cầu Chủ tịch UBND huyện SĐ giải quyết theo thẩm quyền nội dung ông M đề nghị bồi thường 151,7m² đất thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 33 và tài sản (gồm bể xây gạch, nhà xưởng lợp tôn, nhà cấp 4, tường rào) trên thửa đất số 15 và thửa đất số 24, tờ bản đồ số 33.

[2.5]. Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành và nội dung của: Công văn số 882/UBND-KT ngày 12/6/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ.

Thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại số 637/QĐ-UBND. Chủ tịch UBND huyện SĐ đã cho xem xét lại nội dung yêu cầu bồi thường nghị bồi thường 151,7m² đất thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 33 và tài sản (gồm bể xây gạch, nhà xưởng lợp tôn, nhà cấp 4, tường rào) trên thửa đất số 15 và thửa đất số 24, tờ bản đồ số 33.

Xét thấy diện tích đất trên nằm trong hành lang an toàn giao thông nên không được bồi thường và diện tích công trình xây dựng ông M xây dựng sau khi có thông báo thu hồi đất, nên cũng không được bồi thường, nên Chủ tịch UBND huyện SĐ ban hành Công văn số 822/UBND-KT ngày trả lời ông M là đúng qui định..

[2.6]. Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành và nội dung của Quyết định số: 2410/QĐ-UBND ngày 23/7/2019.

Do ông M không thực hiện việc bàn giao đất, UBND huyện SĐ đã nhiều lần vận động, thuyết phục ông M và gia đình nhận tiền bồi thường và bàn giao đất để thực hiện dự án, nhưng ông M không chấp hành. Chủ tịch UBND huyện SĐ đã ban hành Quyết định số: 2410/QĐ-UBND ngày 23/7/2019 của UBND huyện SĐ về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi đất là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo qui định tại Điều 71 của Luật đất đai.

Nội dung Quyết định số: 2410/QĐ-UBND ngày 23/7/2019 đã cưỡng chế thu hồi diện tích đất bị thu hồi và tài sản trên đất. Tuyến nhiên văn bản có sai sót về số liệu, nên Chủ tịch UBND huyện SĐ đã ban hành Văn bản đính chính số 1088/UBND-KT ngày 02/8/2019 của UBND huyện SĐ, về việc đính chính nội dung Quyết định số: 2410/QĐ-UBND ngày 23/7/2019 là đúng qui định.

Ngày 07/8/2019 ông M và gia đình đã tự nguyện bàn giao đất. Do đó không cần thiết phải thực hiện việc cưỡng chế.

Trong quá trình thi công thực diện dự án đường tỉnh 293, UBND thấy không cần thiết thu hồi 109,3m² đất ở đô thị của ông M để thực hiện dự án. Do đó UBND huyện SĐ đã ban hành Quyết định số: 563/QĐ-UBND ngày 20/11/2019 của Ủy ban nhân dân huyện SĐ về việc phê duyệt điều chỉnh giảm phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp ĐT 293 và các tuyến nhánh tây Yên Tử; chùa V địa phận xã TM, thị trấn T, xã TH, huyện SĐ là đúng qui định.

[2.7]. Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành và nội dung của: Quyết định số: 4500/QĐ-UBND ngày 21/11/2019 và Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019.

Do quyết định thu hồi đất và quyết đinh phê duyệt phương án bồi thường đã được điều chỉnh bởi Quyết định số: 563/QĐ-UBND ngày 20/11/2019. Vì vậy Chủ tịch UBND huyện ban hành Quyết định số: 4500/QĐ-UBND ngày 21/11/2019 thu hồi, hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại là đúng qui định. Vì quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu bị thu hồi, hủy bỏ, nên Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số: 1944/QĐ-UBND ngày 22/11/2019 thu hồi, hủy bỏ Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang là đúng qui định.

[2.8]. Đối với Quyết định số: 694/QĐ-UBND ngày 30/12/2019 của Ủy ban nhân dân huyện SĐ về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với hộ ông Nghiêm Đình M 24.368.800đồng là đảm bảo quyền lợi của gia đình ông M. Ông M không khiếu kiện quyết định này.

Từ những phân tích trên thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M.

[3]. Về án phí: Miễn tiền án phí HCST cho ông M. Do ông M thuộc diện hộ nghèo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206 và khoản 1 Điều 348 của Luật tố tụng hành chính;

Điều 204 của Luật đất đai;

Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH 14 ngày 30/12/016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nghiêm Đình M về việc đề nghị:

- Hủy công văn số 822/UBND-KT ngày 20/6/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ V/v giải quyết, đề nghị được bồi thường đất và việc lập hồ sơ giải phóng mặt bằng liên quan một số tài sản trên đất của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T.

- Hủy bỏ khoản 1 Điều 1 Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang (lần 2).

2. Về án phí: Miễn tiền án phí HCST cho ông Nghiêm Đình M.

3. Về quyền kháng cáo:

Báo cho các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyếnên án.

Báo cho các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án. Nơi nhận :

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tối cao;

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Bắc Giang;

(đã ký)

- Cục THA dân sự T. Bắc Giang;

- Các đương sự;

- Người bảo vệ quyền và lợi ích HP của ĐS;

- Lưu HS, VP.

Dƣơng Thế Vinh TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH BẮC GIANG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 06/TB-TA

Bắc Giang, ngày 14 tháng 8 năm 2020

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN SƠ THẨM

Căn cứ vào Điều 197 Luật tố tụng hành chính.

Xét thấy bản án hành chính sơ thẩm số: ....../2020/HC-ST ngày 28/02/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã xét xử giữa các đương sự:

Ngƣời khởi kiện: Ông Nghiêm Đình M, sinh năm 1965; địa chỉ: thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang.

Ngƣời bị kiện:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang. Do ông Nguyễn Quang Ngạn, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ là người đại diện theo pháp luật. Ông Ngạn ủy quyền cho ông Hoàng Văn Trọng, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ tham gia tố tụng tại Tòa án.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang. Do ông Lại T, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang là người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch.

Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ngƣời bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang là ông Ngô Văn Xuyên, chức vụ: Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang và ông Giáp Văm Tâm, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện SĐ.

Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ngƣời bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ là ông Nguyễn Ngọc Ngữ, chức vụ: Giám đốc Trung tâm phát triển quĩ đất và Cụm công nghiệp huyện SĐ.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang. Do ông Nguyễn Quang Ngạn, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ là người đại diện theo pháp luật. Ông Ngạn ủy quyền cho ông Hoàng Văn Trọng, chức vụ: Phó Chủ tịch tham gia tố tụng tại Tòa án.

- Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện SĐ, tỉnh Bắc Giang. Do ông Phạm Văn Hảo, chức vụ: Phó Chủ tịch phụ trách là người đại diện theo pháp luật.

- Bà Hoàng Thị Y, sinh năm 1975. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, thị trấn T, huyện SĐ.

Bản án có những sai sót, nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

-Tại dòng 1, 2, 3 trang 2 và dòng 16, 17, 18 trang 36 từ dưới lên của bản án có ghi:

“Hủy bỏ khoản 1 Điều 1 Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện SĐ về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T”.

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau:

“Hủy bỏ khoản 1 Điều 1 Quyết định số: 637/QĐ-UBND ngày 25/4/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nghiêm Đình M, trú tại thôn Đ, thị trấn T, ”.

Vậy Toà án nhận dân tỉnh Bắc Giang sửa lại nội dung như trên và thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang cùng những người tham gia tố tụng được biết.

Cỡ chữ