- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trang Thị Đ và ông Bùi Văn C.
- Căn cứ chính? Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/DSST Ngày: 06-5-2020 V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Mỹ Chấm
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thanh Nga;
Ông Hồ Chí Cƣờng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Liêng Thị Kim Ngân- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 67/2020/TLST-DS, ngày 09 tháng 01 năm 2020; về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST-DS, ngày 21-4-2020, giữa:
Nguyên đơn: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1969 và bà Trang Thị Đ, sinh năm 1971; Cùng địa chỉ: Ấp P, xã Q, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962; Cùng địa chỉ: Ấp P, xã Q, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại 03 đơn khởi kiện cùng ngày 12/12/2019 trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Trang Thị Đ và ông Bùi Văn C trình bày:
Ông, bà có làm chủ đầu thảo 03 dây hụi trong đó có bà B, ông T tham gia 03 phần cụ thể từng dây hụi và loại hụi như sau:
Dây hụi thứ 1: Ngày 09/7/2012 ÂL, ông, bà mở dây hụi, loại hụi 2.000.000 đồng, gồm có 21 phần, có danh sách hụi viên; Kỳ mở hụi đầu tiên vào ngày 02/3/2011 ÂL; Khui theo vụ lúa (04 tháng); huê hồng 1.000.000 đồng/lần hốt, ông T, bà B tham gia 01 phần, ở lần khui hụi thứ 2 ông T, bà B bỏ thăm lãnh hụi, số tiền ông T, bà B nhận 18.300.000 đồng (đã trừ huê hồng), ông bà giao đủ tiền cho ông T, bà B. Sau khi hốt hụi ông T, bà B đóng hụi chết được 02 lần.
Từ lần khui thứ 5 đến lần khui hụi thứ 10 ông T, bà B không đóng hụi chết, ông bà choàng hụi 6 lần bằng 12.000.000 đồng và đã giải quyết bằng bản án số: 24/2016/DSST ngày 10/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.
Đến những lần khui hụi tiếp theo ông T, bà B không đóng hụi chết ông, bà choàng hụi là 06 lần bằng 12.000.000 đồng và đã giải quyết bằng bản án số 11/2019/DS-ST ngày 19-4-2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.
Từ lần khui hụi thứ 17 đến thứ 21 (mãn hụi ngày 30/9/2019), ông T, bà B không đóng hụi chết ông, bà choàng hụi 5 lần bằng 10.000.000 đồng.
Dây hụi thứ 2: Ngày 02/3/2011 ÂL, ông, bà có mở dây hụi; Loại hụi 2.000.000đ đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không có làm văn bản, gồm có: 23 phần (có danh sách hụi viên); Kỳ mở hụi đầu tiên vào ngày 02/3/2011 ÂL, khui theo vụ lúa (04 tháng); Huê hồng là 1.000.000 đồng/lần hốt; ông T, bà B tham gia 1 phần. Lần khui hụi thứ 1, 2 có đóng hụi sống; Lần thứ 3: Ông T, bà B bỏ thăm lãnh hụi và hốt được số tiền bằng 21.000.000 đồng (đã trừ huê hồng) ông, bà giao đủ tiền hụi cho ông T, bà B. Sau khi hốt hụi ông T, bà B đóng hụi chết 05 lần.
Sau đó ông, bà choàng hụi cho ông T, bà B là 06 lần bằng 12.000.000 đồng và đã giải quyết bằng bản án số: 24/2016/DSST ngày 10/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.
Do ông T, bà B không đóng hụi chết ông, bà choàng hụi 06 lần bằng 12.000.000 đồng và đã giải quyết bằng bản án số 11/2019/DS-ST ngày 19-4-2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.
Từ lần khui hụi thứ 21 đến thứ 23 mãn hụi (ngày 30/9/2019), ông T, bà B không đóng hụi chết ông, bà choàng hụi 3 lần bằng 6.000.000 đồng.
Dây hụi thứ 3: Ngày 02/3/2011 ÂL, ông, bà có mở dây hụi, loại hụi 2.000.000 đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không có làm văn bản, gồm có 23 phần (có danh sách hụi viên); Kỳ mở hụi đầu tiên vào ngày 02/3/2011 ÂL; Khui theo vụ lúa (04 tháng); Huê hồng là 1.000.000 đồng/lần hốt; ông, bà với ông T, bà B hùn tham gia 1 phần (mỗi người ½). Lần khui hụi thứ 1, thứ 2 có đóng hụi sống.
Lần khui hụi thứ 3: Ông, bà với ông T, bà B cùng bỏ thăm hốt hụi, số tiền được lãnh hụi bằng 26.400.000 đồng (đã trừ huê hồng), ông, bà giao cho ông T, bà B bằng 13.200.000 đồng, ông, bà nhận 13.200.000 đồng.
Sau khi hốt hụi ông, bà với ông T, bà B có đóng hụi chết 05 lần (mỗi người đóng ½). Từ lần khui hụi thứ 9 ông T, bà B không đóng hụi chết ông, bà choàng hụi 06 lần bằng 6.000.000 đồng và đã giải quyết bằng bản án số: 24/2016/DSST ngày 10/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.
Do ông T, bà B không đóng hụi chết nên ông, bà choàng hụi 06 lần bằng 6.000.000 đồng và đã giải quyết bằng bản án số 11/2019/DS-ST ngày 19-4-2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.
Từ lần khui hụi thứ 21 đến thứ 23 (mãn hụi ngày 30/9/2019) ông T, bà B không đóng hụi chết ông, bà choàng hụi 3 lần bằng 3.000.000 đồng, qua ý kiến của bà B cho rằng phần hụi này ông, bà choàng hụi 02 lần bằng 2.000.000 đồng ông, bà đồng ý.
Tổng cộng 03 dây hụi trên bà Đ, ông C yêu cầu bà B, ông T trả tiền hụi chết đã choàng bằng 18.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải của bị đơn bà Nguyễn Thị B trình bày:
Bà Đ có tổ chức khui 03 dây hụi bà có tham gia 02 phần và 01 phần hùn với bà Đ, cụ thể từng dây hụi và từng lần khui hụi như sau:
Dây hụi thứ 1: Vào ngày 09/7/2012 ÂL, bà có tham gia góp hụi do bà Đ làm chủ đầu thảo, hình thức và nội dung góp hụi được thỏa thuận như sau: Loại hụi 2.000.000 đồng, có danh sách hụi viên, gồm có 21 phần, hụi vụ (04 tháng), huê hồng 1.000.000 đồng/lần hốt, trong dây hụi này bà tham gia 01 phần và đã hốt hụi ở lần thứ khui thứ 2, bà Đ giao đủ tiền hụi cho bà, sau khi hốt hụi bà có đóng hụi chết, còn lại những lần bà không đóng hụi chết bà Đ đã khởi kiện và qua 02 lần xét xử tại Tòa án. Dây hụi này bà Đ đã choàng cho bà đến mãn hụi là 05 lần bằng 10.000.000 đồng.
Dây hụi thứ 2: Vào ngày 02/3/2011 ÂL, bà có tham gia góp hụi do bà Đ làm chủ đầu thảo, hình thức và nội dung góp hụi được thỏa thuận như sau: Loại hụi 2.000.000 đồng, gồm có 23 phần, có danh sách hụi viên, huê hồng 1.000.000 đồng/lần hốt, hụi vụ 04 tháng khui 01 lần. Trong dây hụi này bà tham gia 01 phần và đã hốt hụi ở lần khui thứ 3, bà Đ giao đủ tiền hụi cho bà, sau khi hốt hụi bà có đóng hụi chết, còn lại những lần bà không đóng hụi thì bà Đ đã khởi kiện và qua 02 lần xét xử tại Tòa án. Dây hụi đã mãn bà Đ choàng hụi cho bà 03 lần bằng 6.000.000 đồng.
Dây hụi thứ 3: Vào ngày 02/3/2011 ÂL, bà có tham gia góp hụi do bà Đ làm chủ đầu thảo, hình thức và nội dung góp hụi được thỏa thuận như sau: Loại hụi 2.000.000 đồng, gồm có 22 phần, có danh sách hụi viên, huê hồng 1.000.000 đồng/lần hốt, hụi vụ (04 tháng). Trrong dây hụi này bà và bà Đ hùn tham gia 01 phần và đã hốt rồi, tiền hốt hụi chia đôi mỗi người ½, sau đó bà và bà Đ cùng hùn đóng hụi chết, đối với phần hụi hùn bà Đ cũng có choàng hụi thay và bà Đ đã khởi kiện và qua 02 lần xét xử tại Tòa án. Dây hụi này đã mãn bà còn nợ bà Đ 02 lần bằng 2.000.000 đồng.
Đối với 03 dây hụi trên bà còn nợ bà Đ bằng 18.000.000 đồng, bà đồng ý trả một mình, yêu cầu không tính lãi, bà tham gia góp hụi ông T không biết, lúc bà tham gia hụi ông T có nói bà tự tham gia thì trả một mình, không liên quan đến ông T.
Tại bản tự khai ngày 20/02/2020 ông Bùi Văn T trình bày: Bà Nguyễn Thị B là vợ ông, bà B có tham gia hụi và còn thiếu bà Đ bằng 18.000.000 đồng là ông không biết, lúc bà B nói tham gia hụi với bà Đ ông không cho, nợ này là của bà B thì để bà B trả cho bà Đ, không liên quan đến ông, nên ông không đồng ý trả cùng bà B.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trang Thị Đ và ông Bùi Văn C có cung cấp cho Tòa án 02 giấy chứng minh nhân dân tên Đ, C (photo); 01 sổ hộ khẩu gia đình mang tên Bùi Văn C (bản photo); 03 danh sách hụi viên (photo) 02 bản án sơ thẩm (photo); Bị đơn không có cung cấp chứng cứ.
Những vấn đề các bên đƣơng sự thống nhất:
Bà Nguyễn Thị B thừa nhận có tham gia 03 phần hụi cụ thể.
Dây hụi thứ 1: Ngày 09/7/2012 ÂL; Loại hụi 2.000.000đ, bà Đ, ông C choàng hụi 5 lần bằng 10.000.000 đồng, hụi đã mãn.
Dây hụi thứ 2: Ngày 02/3/2011 ÂL; Loại hụi 2.000.000đ, bà Đ, ông C choàng hụi 3 lần bằng 6.000.000 đồng, hụi đã mãn.
Dây hụi thứ 3: Ngày 02/3/2011 ÂL; Loại hụi 2.000.000đ (hụi hùn), bà Đ, ông C choàng hụi 2 lần bằng 2.000.000 đồng, hụi đã mãn.
Những vấn đề các bên đƣơng sự không thống nhất:
Bà Trang Thị Đ, ông Bùi Văn C yêu cầu ông Bùi Văn T với bà Nguyễn Thị B trả tiền hụi chết còn nợ của 03 phần hụi bằng 18.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị B đồng ý trả 01 mình cho ông C, bà Đ bằng 18.000.000 đồng, nợ này ông T không biết.
Ông Bùi Văn T không đồng ý trả nợ tiền hụi chết cho ông C, bà Đ cùng với bà B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”. Bị đơn cư trú tại huyện Tiểu Cần theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án.
Về nội dung: Ngày 20/02/2020 Tòa án ra quyết định nhập 03 vụ án “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi” thành 01 vụ án thụ lý số: 67/2020/TLST-DS, ngày 09-01-2020.
Về yêu cầu khởi kiện của bà Trang Thị Đ và ông Bùi Văn C:
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Đ, bà B có lời khai thống nhất bà Đ có mở 03 dây hụi trong đó bà B tham gia 02 phần và 01 phần hụi hùn với bà Đ và bà Đ choàng hụi cho bà B đến khi mãn hụi bằng 18.000.000 đồng, đây là những tình tiết các đương sự không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Đ, ông C khởi kiện yêu cầu bà B, ông T có nghĩa vụ trả cho ông, bà tiền hụi đã choàng của 03 phần bằng 18.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Bà B thừa nhận toàn bộ số tiền hụi bà Đ đã choàng 03 phần bằng 18.000.000 đồng, bà đồng ý trả một mình cho bà Đ, ông C không liên quan đến ông T chồng bà.
Đối với ông Bùi Văn T không đồng ý trả tiền hụi chết cùng với bà B cho bà Đ, ông C, ông cho rằng nợ này là của bà B không liên quan đến ông. Xét thấy mặc dù ông không thỏa thuận giao dịch góp hụi với ông C, bà Đ, nhưng qua 02 lần Tòa án xét xử tại Bản án số: 24/2016/DSST ngày 10/3/2016 và Bản án số: 11/2019/DSST ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần đối với các dây hụi nêu trên đều buộc ông có trách nhiệm liên đới với bà B trả tiền hụi chết cho ông C, bà Đ, điều này chứng tỏ ông có biết việc bà B là vợ ông có giao dịch góp hụi với bà Đ, ông C ở 03 dây hụi trên. Từ những nhận định nêu trên buộc ông T cùng có trách nhiệm với bà B trả cho bà Đ, ông C tiền hụi chết 03 phần bằng 18.000.000 đồng là có cơ sở. Do ông C, bà Đ không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Thị B phải chịu theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn ông Bùi Văn C và bà Trang Thị Đ không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26 khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 92, 147, 228, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Nghị định 144/2006/NĐ-CP, ngày 27/11/2006 của Chính phủ;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trang Thị Đ và ông Bùi Văn C.
2. Buộc ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm trả tiền hụi chết cho bà Trang Thị Đ và ông Bùi Văn C bằng 18.000.000 đồng (Loại hụi 2.000.000 đồng, mở ngày 02/3/2011 ÂL bằng 2.000.000đ; Loại hụi 2.000.000 đồng, mở ngày 02/3/2011 ÂL bằng 6.000.000đ; Loại hụi 2.000.000 đồng, mở ngày 09/7/2012 ÂL bằng 10.000.000đ). Ông Bùi Văn C và bà Trang Thị Đ không yêu cầu tính lãi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3. Về án phí: Buộc bị đơn ông Bùi Văn T và Nguyễn Thị B phải chịu 900.000 đồng án phí dân sự.
Ông Bùi Văn C và bà Trang Thị Đ không phải chịu án phí. Hoàn trả Số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007571; Số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007569; Số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007570 cùng ngày 09-01-2020 Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần cho bà Trang Thị Đ và ông Bùi Văn C.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Tiểu Cần; - Chi cục THADS huyện Tiểu Cần; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Mỹ Chấm |