- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị Quýt - Tô Thúy Hằng, Đoàn Văn Thắng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q .
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/DS-ST Ngày 10 - 02 - 2020 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Hà
Ông Nguyễn Văn Hiển
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
Ngày 10 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 424/2019/TLST–DS ngày 05 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2020/QĐST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q , sinh năm 1972
Cư trú tại: ấp Văn Luyện, xã N , huyện Đ , tỉnh C . (có mặt)
- Bị đơn: Bà Tô Thúy H và ông Đoàn Văn T
Cùng cư trú tại: ấp Văn Luyện, xã N , huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 12 năm 2019, lời trình bày trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q trình bày:
Bà làm chủ hụi bà H và ông T có tham gia các dây hụi, cụ thể như sau:
Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 30/6/2017al, loại hụi 300.000 đồng, nửa tháng khui một lần, gồm có 48 chưng, vợ chồng ông Thắng tham gia 01 chưng. Chưng hụi này, vợ chồng ông T đóng được 01 lần hụi sống số tiền 240.000 đồng, đến lần thứ hai bỏ 80.000 đồng, hốt số tiền 10.120.000 đồng (trừ tiền cò 300.000 đồng). Sau khi hốt, vợ chồng ông T có đóng hụi chết, đến nay còn nợ lại 06 lần chưa đóng tương đương số tiền 1.800.000 đồng, hụi này đã mãn.
Dây hụi thứ hai: Mở ngày 30/8/2017al, loại hụi 500.000 đồng, nửa tháng khui một lần, gồm có 48 chưng, vợ chồng ông T tham gia 04 chưng. Chưng hụi thứ nhất: Vợ chồng ông T bỏ 90.000 đồng, hốt lần đầu được số tiền 18.400.000 đồng (trừ tiền cò 400.000 đồng). Chưng thứ hai: Vợ chồng ông T đóng được 01 lần hụi sống số tiền 410.000 đồng đến lần thứ hai bỏ 110.000 đồng, hốt số tiền 18.040.000 đồng (trừ tiền cò 400.000 đồng). Chưng thứ ba: Vợ chồng ông T đóng được 03 lần hụi sống (lần 1 đóng 410.000 đồng, lần 2 đóng 390.000 đồng, lần 3 đóng 385.000 đồng) đến lần thứ 4 bỏ 125.000 đồng, hốt số tiền 17.600.000 đồng (trừ tiền cò 400.000 đồng). Chưng thứ tư: Vợ chồng ông T đóng được 08 lần hụi sống sống (lần 1 đóng 410.000 đồng, lần 2 đóng 390.000 đồng, lần 3 đóng 385.000 đồng, lần 4 đóng 375.000 đồng, lần 5 đóng 355.000 đồng, lần thứ 6 đóng 365.000 đồng, lần 7 đóng 425.000 đồng và lần thứ 8 đóng 400.000 đồng) đến lần thứ 9 bỏ 90.000 đồng, hốt số tiền 19.540.000 đồng (trừ tiền cò 400.000 đồng). Dây hụi này, vợ chồng ông T còn nợ lại 13 lần chưa đóng tương đương số tiền 13 x 4 x 500.000 đồng = 26.000.000 đồng, hụi này đã mãn.
Dây hụi thứ ba: Mở ngày 30/01/2018al, loại hụi 300.000 đồng, nửa tháng khui một lần, gồm có 54 chưng, vợ chồng ông T tham gia 01 chưng. Chưng hụi này, vợ chồng ông T đóng được 01 lần hụi sống số tiền 240.000 đồng đến lần thứ hai bỏ 80.000 đồng, hốt số tiền 11.440.000đ (trừ tiền cò 300.000 đồng). Sau khi hốt, vợ chồng ông T có đóng hụi chết được 24 lần với số tiền 7.200.000 đồng, đến nay còn nợ lại 30 lần chưa đóng tương đương số tiền 9.000.000 đồng, hụi này đến ngày 15/4/2020al mãn.
Dây hụi thứ tư: Mở ngày 30/5/2018al, loại hụi 500.000 đồng, nửa tháng khui một lần, gồm có 59 chưng, vợ chồng ông T tham gia 03 chưng. Chưng hụi thứ nhất: Vợ chồng ông T bỏ 100.000 đồng, hốt lần đầu được số tiền 22.800.000 đồng (trừ tiền cò 400.000 đồng). Chưng thứ hai: Vợ chồng ông T đóng được 01 lần hụi sống số tiền 400.000 đồng đến lần thứ hai bỏ 150.000 đồng, hốt số tiền 20.050.000 đồng (trừ tiền cò 400.000 đồng). Chưng thứ ba: Vợ chồng ông T đóng được 02 lần hụi sống (lần 1 đóng 400.000đ, lần 2 đóng 350.000 đồng) đến lần 3 thì bỏ 160.000 đồng, hốt số tiền 19.640.000 đồng (trừ tiền cò 400.000 đồng). Hụi này, vợ chồng ông T đóng được 17 lần hụi chết với số tiền 25.500.000 đồng, còn nợ lại 42 lần chưa đóng tương đương số tiền 42 x 3 x 500.000 đồng = 63.000.000 đồng, hụi này đến ngày 30/10/2020al mãn.
Dây hụi thứ năm: Mở ngày 30/8/2018al, loại hụi 500.000 đồng, nửa tháng khui một lần, gồm có 49 chưng, vợ chồng ông T tham gia 03 chưng. Chưng hụi thứ nhất: Vợ chồng ông T bỏ 130.000 đồng, hốt lần đầu được số tiền 17.360.000 đồng (đã trừ tiền cò 400.000 đồng). Chưng thứ hai: Vợ chồng ông T đóng được 01 lần hụi sống số tiền 370.000 đồng đến lần thứ hai bỏ 135.000 đồng, hốt số được tiền 17.255.000 đồng. Chưng thứ ba: Vợ chồng ông T đóng được 02 lần hụi sống (lần 1 đóng 370.000 đồng, lần 2 đóng 365.000 đồng) đến lần thứ 3 bỏ 135.000 đồng, hốt được số tiền 17.390.000 đồng. Dây hụi này, vợ chồng ông T đóng hụi chết được 15.000.000 đồng, còn nợ lại 39 lần chưa đóng tương đương số tiền 39 x 3 x 500.000 đồng = 58.500.000 đồng. Dây hụi này đến ngày 30/8/2020al mãn.
Dây hụi thứ sáu: Mở ngày 30/01/2019al, loại hụi 500.000 đồng, nửa tháng khui một lần, gồm có 52 chưng, vợ chồng ông T tham gia 03 chưng. Chưng hụi thứ nhất: Vợ chồng ông T bỏ 90.000 đồng, hốt lần đầu được số tiền 20.510.000 đồng. Chưng thứ hai và chưng thứ ba: Vợ chồng ông T đóng được 01 lần hụi sống số tiền 410.000 đồng, đến lần thứ hai bỏ 100.000 đồng, hốt hai chưng, mỗi chưng số tiền 20.100.000 đồng. Dây hụi này, vợ chồng ông T đóng hụi chết được 03 lần với số tiền 4.500.000 đồng, còn nợ lại 49 lần chưa đóng tương đương số tiền 49 x 3 x 500.000 đồng = 73.500.000 đồng, hụi này đến ngày 15/3/2021 al mãn.
Bà nhiều lần yêu cầu bà H và ông T g trả tiền hụi nhưng bà H và ông T hứa hết lần này đến lần khác, nhưng không thực hiên việc trả nợ cho bà. Nay, bà yêu cầu ông Đoàn Văn T và bà Tô Thúy H trả cho bà tổng số tiền hụi còn nợ 06 dây hụi số tiền là 231.800.000 đồng.
Tại phiên tòa bà Quýt yêu cầu ông Đoàn Văn T và bà Tô Thúy H trả cho bà tổng số tiền hụi còn nợ 06 dây hụi đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 10/02/2020).
Đối với bị đơn bà Tô Thúy H và ông Đoàn Văn T : Trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà H và ông T theo quy định của pháp luật nhưng bà H và ông T không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Q .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Bà Tô Thúy H và ông Đoàn Văn T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông T .
Về quan hệ tranh chấp: Việc bà Nguyễn Thị Q khởi kiện yêu cầu bà Tô Thúy Hằng và ông Đoàn Văn T trả cho bà bà tổng số tiền hụi còn nợ 06 dây hụi đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 10/02/2020). Do đó quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết là tranh chấp về giao dịch dân sự theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vu án: Bà Q xác định vào các ngày 30/6/2017al, ngày 30/8/2017al, ngày 30/01/2018al, ngày 30/5/2018al, ngày 30/8/2018al và ngày 30/01/2019al bà có mở các dây hụi 300.000 đồng và 500.000 đồng, bà H và ông T là hụi viên tham gia giao dịch 06 dây hụi và đã hốt hết các dây hụi đã tham gia, sau khi hốt vợ chồng bà H và ông T không đóng đủ hụi chết cho bà.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Q thấy rằng, bà Q mở các dây hụi như sau:
Dây 1: Mở ngày 30/6/2017al, hụi 300.000 đồng, tháng khui 02 kỳ, gồm 48 chưng, vợ chồng bà H và ông T tham gia 01 chưng. Vào ngày 15/7/2017al bà H và ông T bỏ 80.000 đồng hốt số tiền 10.120.000 đồng (đã trừ tiền cò 300.000 đồng). Sau khi hốt, vợ chồng H và ông T còn nợ 06 lần hụi số tiền 06 x 300.000 đồng = 1.800.000 đồng, hụi đã mãn.
Dây 2: Mở ngày 30/8/2017 al, loại hụi 500.000 đồng, tháng khui 02 kỳ, gồm 48 chưng, vợ chồng H và ông T tham gia 04 chưng. Sau khi hốt 04 chưng hụi, vợ chồng H và ông T còn nợ lại tiền hụi 13 lần số tiền 13 x 4 x 500.000 đồng = 26.000.000 đồng, hụi đã mãn.
Dây 3: Mở ngày 30/01/2018 al, loại hụi 300.000 đồng, tháng khui 02 kỳ, gồm 54 chưng, vợ chồng H và ông T tham gia 01 chưng. Vào ngày 15/02/2018 al H và ông T bỏ 80.000 đồng hốt số tiền 11.440.000 đồng. Sau khi hốt, vợ chồng bà H và ông T còn nợ lại tiền hụi 30 lần số tiền 30 x 300.000 đồng = 9.000.000 đồng, hụi mãn vào ngày 15/4/2020al. Dây hụi này bà H và ông T vị phạm nghĩa vụ nộp hụi đến ngày xét xử (10/02/2020) là 24 lần x 300.000 đồng = 7.200.000 đồng.
Dây 4: Mở ngày 30/5/2018 al, loại hụi 500.000 đồng, tháng khui 02 kỳ, gồm 59 chưng, vợ chồng bà H và ông T tham gia 03 chưng. Sau khi hốt hụi, vợ chồng bà H và ông T còn nợ lại tiền hụi 42 lần số tiền 42 x 3 x 500.000 đồng = 63.000.000 đồng, hụi mãn vào ngày 30/10/2020al. Dây hụi này bà H và ông T vị phạm nghĩa vụ nộp hụi đến ngày xét xử (10/02/2020) là 23 lần x 3 chưng x 500.000 đồng = 34.500.000 đồng.
Dây 5: Mở ngày 30/8/2018 al, loại hụi 500.000 đồng, tháng khui 02 kỳ, gồm 49 chưng, vợ chồng bà H và ông T gia 03 chưng. Sau khi hốt 03 chưng hụi, vợ chồng bà H và ông T còn nợ lại tiền hụi 39 lần số tiền 39 x 3 x 500.000 đồng = 58.500.000 đồng, hụi mãn vào ngày 30/8/2020al. Dây hụi này bà H và ông T vị phạm nghĩa vụ nộp hụi đến ngày xét xử (10/02/2020) là 24 lần x 3 chưng x 500.000 đồng = 36.000.000 đồng.
Dây 6: Mở ngày 30/01/2019 al, loại hụi 500.000 đồng, tháng khui 02 kỳ, gồm 52 chưng, vợ chồng bà H và ông T tham gia 03 chưng. Sau khi hốt 03 chưng hụi, vợ chồng bà H và ông T còn nợ lại tiền hụi 49 lần số tiền 49 x 3 x 500.000 đồng = 73.500.000 đồng, hụi mãn vào ngày 15/3/2021al. Dây hụi này bà H và ông T vị phạm nghĩa vụ nộp hụi đến ngày xét xử (10/02/2020) là 21 lần x 3 chưng x 500.000 đồng = 31.500.000 đồng.
Căn cứ các tờ xác nhận ngày 03/01/2020 của Nguyễn Hữu H , sinh năm 1984; Nguyễn Hữu C , sinh năm 1991; Diệp Công H , sinh năm 1980; Trương Văn L , sinh năm 1969; Nguyễn Hữu O h, sinh năm 1980; Dương Văn D , sinh năm 1966; Huỳnh Phương sinh năm 1968; Phan Thị Đ , sinh năm 1969; Lê Hoàng T , sinh năm 1963; Hồ Quốc T , sinh năm 1967; Huỳnh Văn S , sinh năm 1969 và Huỳnh Văn T , sinh năm 1981 cùng cư trú tại ấp V , xã N , huyện Đ là những hụi viên cùng bà H và ông T tham gia trong các dây hụi xác định. Bà H và ông T có tham gia các dây hụi 300.000 đồng và 500.000 đồng do bà Q làm chủ, mở các ngày 30/6/2017al, ngày 30/8/2017al, ngày 30/01/2018al, ngày 30/5/2018al, ngày 30/8/2018al và ngày 30/01/2019. Trong quá trình tham gia hụi, khi đi bỏ hụi các ông bà có thấy vợ chồng bà H và ông T đi bỏ hụi và vợ chồng bà H và ông T đã hốt tất các các dây hụi đã tham gia. Cũng như, tại khoản 2 Điều 30 Nghị định 144/2006/NĐ-CP quy định “...Trong trường hợp thành viên không góp phần họ, chủ họ đã góp các phần họ thay cho thành viên đó thì thành viên phải trả cho chủ họ các phần họ chậm trả và khoản lãi đối với các phần họ chậm trả. Mức lãi do các bên thoả thuận, nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm trả các phần họ...” Viễn dẫn từ điều luật trên cho thấy bà H và ông T đã vi phạm nghĩa nộp hụi (họ).
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “…Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết…mà bên đượng sự đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh…”. Viễn dẫn theo điều luật trên, tư khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà H và ông T nhiều lần để tham gia giải quyết vụ án, nhưng bà H và ông T không tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ đối với yêu cầu của bà Q nên bà phải chịu thiệt hại về sự vắng mặt của mình.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q . Buộc bà Tô Thúy H và ông Đoàn Văn T trả cho bà Q số tiền 06 dây hụi còn thiếu đến ngày xét xử (10/02/2020) tổng số tiền 137.000.000 đồng (hụi ngày 30/6/2017al số tiền 1.800.000 đồng + hụi ngày 30/8/2017al số tiền 26.000.000 đồng + hụi ngày 30/01/2018al số tiền 7.200.000 đồng + hụi ngày 30/5/2018al số tiền 34.500.000 đồng + hụi ngày 30/8/2018al số tiền 36.000.000 đồng và ngày 30/01/2019al số tiền 31.500.000 đồng) mà bà Q đã nộp hụi thay cho bà H và ông T .
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà H và ông T phải chịu số tiền là 6.850.000 đồng. (137.000.000 đồng x 5% )
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 92, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q .
Buộc bà Tô Thúy H và ông Đoàn Văn T phải trả cho bà Nguyễn Thị Q số tiền 06 dây hụi còn thiếu đến ngày xét xử (10/02/2020) tổng số tiền là 137.000.000 đồng (một trăm ba mươi bảy triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà Quýt 2.935.000 đồng (hai triệu chín trăm ba mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai số 0009997 ngày 05 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
Bà Tô Thúy H và ông Đoàn Văn T phải chịu 6.850.000 đồng (sáu triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.