vanban.org

Bản án 06/2019/TCDS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử vắng mặt bà Lê Thị Ph

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V N Th V Buộc bà Lê Thị Ph phải trả cho Ngân hàng TMCP V N Th V tổng số tiền là 451.881.126 (bốn trăm năm mươi mốt triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn một trăm hai mươi sáu đồng), trong đó tiền nợ gốc 366.221.406đ (ba trăm sáu mươi sáu triệu hai t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NGÂN HÀNG VP - LÊ THỊ PH"
  • Tòa quyết gì? Xử vắng mặt bà Lê Thị Ph
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 06/2019/TCDS-ST
Ngày: 18-6- 2019
“V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Xuân Lợi và bà Đậu Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Thanh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên toà: Ông Đinh Xuân Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2019/TLST-TCDS, ngày 15 tháng 01 năm 2019 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXX-ST ngày 10 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V N Th V

Địa chỉ: Số 89 Láng H, phường Láng H, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Đỗ Thành Tr – Phó Giám đốc Khối pháp chế và Kiểm soát tuân thủ, (Theo văn bản ủy quyền số 11/2018/UB-HĐQT ngày 02/3/2018.

Người được ủy quyền lại: ông Đào Tùng L – Chuyên viên xử lý nợ -. (Theo văn bản ủy quyền nộp đơn khởi kiện và tham gia tố tụng tại Tòa án số 469A/2018/UQ-VPB ngày 28/9/2018)

2. Bị đơn: bà Lê Thị Ph, sinh năm 1973

Địa chỉ: thôn Tân C, xã Cảnh D, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình

Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn ông Đào Tùng L có mặt, bị đơn bà Lê Thị Ph vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện nguyên đơn trình bày: Ngày 28/10/2016, bà Lê Thị Ph đã ký kết với Ngân hàng TMCP V N Th V – Chi nhánh Bắc Quảng Bình – Phòng giao dịch Ba Đồn hợp đồng tín dụng số 9994867 để vay số tiền 360.000.000 (ba trăm sáu mươi triệu đồng). Mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh nông sản, thời hạn vay 120 tháng, lãi suất 9,8%/năm, mức lãi suất này cố định trong thời gian 12 tháng kể từ ngày giải ngân và sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7 và 01/10 hàng năm; kỳ hạn trả nợ tiền lãi và tiền gốc 01 tháng/lần.

Bà Lê Thị Ph đã dùng tài sản là quyền sử đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 384, tờ bản đồ số 10, được Ủy ban nhân dân huyện Quảng Trạch cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU842645 ngày 17/10/2014 mang tên bà Lê Thị Ph, tại thôn Tân C, xã Cảnh D, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo cho việc thực toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và tất cả các nghĩa vụ liên quan khác phát sinh từ tất cả các Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa bên thế chấp với bên Ngân hàng trước, trong và sau ngày ký Hợp đồng thế chấp, bao gồm các phụ lục, văn bản tín dụng, theo quy định tại Điều 2 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 9994867 ngày 27/10/2016.

Ngoài ra, ngày 12/6/2016 bà Lê Thị Ph ký kết với Ngân hàng TMCP V N Th V Hợp đồng tín dụng đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn để vay số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu) đồng, mục đích vay vốn để mua xe máy, thời hạn vay 48 tháng, kể từ ngày mở thẻ và giải ngân (ngày 12/6/2016), lãi suất 20%/năm, các kỳ hạn trả nợ lãi và gốc 01 tháng/lần.

Quá trình vay vốn, bà Lê Thị Ph mới chỉ thanh toán cho Ngân hàng được một khoản tiền gốc và lãi. Cụ thể: Đối với Hợp đồng tín dụng số 9994867, ngày 28/10/2016 đã thanh toán 42.000.000đ tiền gốc và 41.133.445đ tiền lãi; đối với Hợp đồng tín dụng giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, ngày 12/6/2016 đã thanh toán 11.778.594đ tiền gốc và 12.320.430đ tiền lãi. Tại phiên tòa phía nguyên đơn cung cấp bảng tổng hợp dư nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (18/6/2019) bà Lê Thị Ph còn nợ Ngân hàng tổng số tiền của cả hai Hợp đồng tín dụng là 451.881.126đ, trong đó nợ tiền gốc 366.221.406đ và nợ tiền lãi 85.659.720đ (Lãi trong hạn: 65.340.089, lãi quá hạn 20.391.631đ), nên bà Ph đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Để thu hồi tài sản cho Nhà nước, Ngân hàng TMCP V N Th V đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị Ph phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi nói trên và yêu cầu bà Ph phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong tiền nợ.

Trường hợp bà Ph không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền tự xử lý hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mại tài sản là quyền sử đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 384, tờ bản đồ số 10, được Ủy ban nhân dân huyện Quảng Trạch cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU842645 ngày 17/10/2014 mang tên bà Lê Thị Ph, tại thôn Tân C, xã Cảnh D, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình để đảm bảo thu hồi nợ.

Phía bị đơn bà Lê Thị Ph, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà không có mặt và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến của mình cho Tòa án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng; Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 317, 320, 322, 323, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng VP, buộc bị đơn bà Lê Thị Ph phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (18/6/2019) là 451.881.126 đồng, trong đó tiền nợ gốc 366.221.406 đồng và tiền nợ lãi 85.659.720 đồng. Trường hợp bà Lê Thị Ph không trả được nợ thì Ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng đã ký kết để thu hồi nợ; buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: bị đơn bà Lê Thị Ph có nơi cư trú tại xã Cảnh D, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch.

Giữa Ngân hàng TMCP V N Th V với bà Lê Thị Ph đã ký kết hợp đồng tín dụng và mở, sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử để vay vốn với mục đích bổ sung vốn kinh doanh nông sản và mua xe máy. Tuy nhiên tại thời điểm vay vốn bà Lê Thị Ph là cá nhân không có giấy phép đăng ký kinh doanh. Do quá trình vay vốn bà Ph vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện bà Ph tại Tòa án đòi số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Vì vậy, xác định đây tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Qua kết quả xác minh tại UBND xã Cảnh D và người thân của bị đơn, thì tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng với phía Ngân hàng VP và hiện nay bà Ph có hộ khẩu thường trú tại thôn Tân C, xã Cảnh D, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, chưa cắt chuyển đi nơi khác, hiện tại mặc dù bà Ph không có mặt tại địa phương, thỉnh thoảng vẫn về và điện thoại liên lạc với người thân trong gia đình, nhưng bà không cho biết địa chỉ nơi ở cụ thể. Như vậy xét thấy nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn theo địa chỉ được ghi trong Hợp đồng tín dụng, nên đây là trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Sau khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa mở lần thứ hai, bị đơn bà Lê Thị Ph vẫn vắng mặt, không rõ lý do, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung tranh chấp, yêu cầu của đương sự:

Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Giữa Ngân hàng TMCP V N Th V với bà Lê Thị Ph đã ký kết Hợp đồng tín dụng vào ngày 28/10/2016 và mở thẻ sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn ngày 12/6/2016. Phía Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho bà Ph theo các Hợp đồng là 420.000.000 đồng. Như vậy, các Hợp đồng tín dụng có nội dụng và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, là hợp đồng hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9994867 giữa Ngân hàng TMCP V N Th V và bà Lê Thị Ph, ký kết vào ngày 27/10/2016, đã được công chứng, việc thế chấp tài sản đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên có giá trị pháp lý, các bên tham gia ký kết có nghĩa vụ thực hiện. Do bị đơn vi phạm hợp đồng tín dụng, nên nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có cơ sở.

Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 317, 320, 322, 323 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91; 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V N T V Buộc bà Lê Thị Ph phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ 451.881.126 đồng, trong đó tiền nợ gốc 366.221.406 đồng và tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (18/6/2019) là 85.659.720 đồng. Ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp khi phía bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (18/6/2019), bà Lê Thị Ph còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Về án phí: Do yêu cầu của của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Lê Thị Ph phải chịu toàn bộ tiền án phí để sung vào công quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227; 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 317, 320, 322, 323, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91; 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử vắng mặt bà Lê Thị Ph

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V N Th V

Buộc bà Lê Thị Ph phải trả cho Ngân hàng TMCP V N Th V tổng số tiền là 451.881.126 (bốn trăm năm mươi mốt triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn một trăm hai mươi sáu đồng), trong đó tiền nợ gốc 366.221.406đ (ba trăm sáu mươi sáu triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn bốn trăm linh sáu đồng) và tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (18/6/2019) 85.659.720đ (tám mươi lăm triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi đồng).

“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (18/6/2019), bà Lê Thị Ph còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”

Khi án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Ph trả nợ xong bao gồm cả khoản nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thương mại cổ phần V N Th V thì Ngân hàng phải giải chấp, trả lại cho bà Ph giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số BU842645, được UBND huyện Quảng Trạch cấp ngày 17/10/2014 mang tên bà Lê Thị Ph.

Nếu bà Ph không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần V N Th V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 384, tờ bản đồ số 10, được Ủy ban nhân dân huyện Quảng Trạch cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU842645, ngày 17/10/2014 mang tên Lê Thị Ph, tại thôn Tân C, xã Cảnh D, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình để đảm bảo thu hồi nợ. Trong trường hợp số tiền phát mại thu hồi từ tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì bà Ph tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

3. Về án phí: bà Lê Thị Ph phải chịu 22.075.240(hai mươi hai triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm bốn mươi đồng) đồng để sung vào công quỹ nhà nước.

Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V N Th V số tiền tạm ứng án phí 9.968.521 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, theo biên lai số 0001188 ngày 14/01/2019.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm(18/6/2019). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ