vanban.org

Bản án 06/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 05/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: bị cáo Bo Xuân Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: bị cáo Bo Xuân Ph 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/9/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BO XUÂN PH -Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: bị cáo Bo Xuân Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN BẮC
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HS-ST
Ngày: 05 - 9 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Lâm Bách

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Thanh Sỹ và bà Katơr Thị Quanh.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Trần Văn Tùng – Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên toà: bà Lương Thị Huệ – Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 9 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Bo Xuân Ph – sinh năm: 1999, tại Ninh Thuận, Giới tính: Nam

Nơi cư trú: thôn MH, xã M, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận;

Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ văn hoá (học vấn): không biết chữ; Dân tộc: Rắc Lây; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Mai Đ và bà Bo Thị L; Vợ con: chưa có; Tiền án, Tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam: không; Bị cáo hiện đang tại ngoại; Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: ông Đỗ Thanh Long – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Ninh Thuận; Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: anh Chamaléa Kh – sinh năm: 1999 Địa chỉ: thôn Đ A, xã PC, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 05/6/2019, Bo Xuân Ph cùng bạn đi chơi tại địa bàn xã PC, huyện Thuận Bắc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Bo Xuân Ph đi bộ theo đường PC – Công Hải để về nhà. Khi đi đến khu vực hồ Sông Trâu thì Ph nhìn thấy có một chiếc xe mô tô biển số 85V4 - 0588 đang dựng bên lề đường đất, trên xe có cắm sẵn chìa khóa. Thấy vậy, Ph nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe đem bán để lấy tiền tiêu xài. Ph đi đến gần chiếc xe và quan sát không có ai trông coi nên nổ máy rồi chạy về nhà mình ở Ninh Sơn. Khi gần đến nhà, Ph bị té xe nên đã đem chiếc xe vừa trộm được đến tiệm của anh Trần Văn L ở cùng thôn để sửa rồi đi bộ về nhà. Sau khi phát hiện mất xe anh Chamaléa Kh đã đến trình báo công an.

Quá trình điều tra, Bo Xuân Ph đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình, Cơ quan điều tra đã thu giữ xe mô tô biển số 85V4 – 0588 và trao trả cho anh Chamaléa Kh. Anh Kh yêu cầu Ph hoàn trả chi phí sữa chữa xe; bị cáo đã bồi thường 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/KLĐGTS ngày 10/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thuận Bắc kết luận: xe mô tô biển số 85V4 - 0588 tại thời điểm ngày 05/6/2019 có giá trị 3.200.000đ.

* Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSTB ngày 19/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Bo Xuân Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i , s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Bo Xuân Ph từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

- Người bào chữa cho bị cáo: đồng ý với cáo trạng truy tố và luận tội của của Viện kiểm sát Nhân dân huyện Thuận Bắc tại phiên tòa. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, mù chữ. Hành vi phạm tội là bộc phát. Bị hại có lỗi khi dừng xe ở chỗ vắng, trên xe có cắm sẳn chìa khóa. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là cháu ruột của người có công với cách mạng. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i , s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của BLHS xử phạt bị cáo Bo Xuân Ph 06 tháng tù cho hưởng án treo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do thuộc đối tượng hộ cận nghèo.

- Bị cáo nói lời sau cùng: không có

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Thuận Bắc, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Qua thẩm vấn công khai tại phiên toà hôm nay, bị cáo Bo Xuân Ph khai nhận vào ngày 05/6/2019 đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 85V4-0588, trị giá 3.200.000đ của anh Chamaléa Kh để ở khu vực hồ Sông Trâu, thuộc thôn Động Thông, xã PC, huyện Thuận Bắc với mục đích mang đi bán lấy tiền tiêu xài.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu thu thập tại hồ sơ, đã được thẩm tra, đánh giá tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Bo Xuân Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc đối với bị cáo Ba Xuân Ph là có căn cứ và đúng pháp luật.

Bị cáo là người đã thành niên, đủ nhận thức nhận biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do tham lam, tư lợi nên bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi trộm cắp. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm khắc để răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; tài sản mất cắp được thu hồi trả lại ngay cho bị hại nên hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51của BLHS; Mặc khác, bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; Bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Hội đồng xét xử có cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện xem xét cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao “Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo”.

Về trách nhiệm dân sự: xe mô tô bị mất đã được thu hồi trả cho bị hại (Chamaléa Kh) và bị cáo cũng đã bồi thường chi phí sửa chữa xe mô tô bị hư hỏng. Anh Chamaléa Kh không có yêu cầu nào khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra đối với bị cáo.

Ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ là: người bị hại cũng có lỗi và bị cáo là thân nhân của người có công với cách mạng theo khoản 2 Điều 51 BLHS là không phù hợp. Bởi vì: bị hại để xe không trong coi, cắm sẳn chìa khóa là do chủ quan, đây chỉ là điều kiện thuận lợi cho bị cáo chiếm đoạt tài sản. Giữa bị cáo và bà ngoại là quan hệ bà cháu, không có quan hệ nuôi dưỡng. Nên không chấp nhận ý kiến của người bào chữa.

Về án phí: tại phiên tòa, bị cáo Bo Xuân Ph có đơn xin được miễn án phí do bị cáo thuộc đối tượng hộ cận nghèo. Đề nghị miễn án phí của bị cáo là phù hợp với quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (kèm theo Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án) nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố: bị cáo Bo Xuân Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Bo Xuân Ph 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/9/2019).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Về án phí: bị cáo Bo Xuân Ph được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Bị hại vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ