- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ———— Bản án số: 06/2019/HSST. Ngày:11/3/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang
Các hội thẩm:
Ông: Lý Ngọc Sáng
Ông: Nguyễn Khánh Yên
Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Lâm Thị Tuyết, thư ký Toà án nhân dân huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường tè tham gia phiên toà: ông Đinh Văn Đức, kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2018/TLST - HS, ngày 28 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST –HS, ngày 25 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo: Hù Chà C - Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1989, sinh tại: xã K, huyện M, Lai Châu. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: bản S, xã K, huyện M, tỉnh Lai Châu. Dân tộc: Si La; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt nam; Nghề nghiệp: Tự do; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 10/12. Con ông: Hù Chà O – đã chết; Con bà: Pờ Cố M – Sinh năm: 1959. Bị cáo có vợ: Vàng Xè N – sinh năm: 1989. Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2018 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại : Ông Hù Chà C - sinh năm: 1944; Trú tại: bản S, xã K, huyện M, tỉnh Lai Châu - Có mặt.
* Người phiên dịch cho bị hại: Anh Hù Chà C– Trú tại: bản S, xã K, Mường Tè, Lai Châu – Có mặt
* Người bào chữa cho bị cáo Hù Chà C là Ông: Trần Văn Hùng – Luật sư, cộng tác viên của Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu – Có mặt.
* Người làm chứng:
1- Anh Hù Chà P - Sinh năm:1970; Trú tại: bản S, xã K, huyện M, tỉnh Lai Châu – Vắng mặt
2- Bà Pờ Cố M - Sinh năm:1959 ; Trú tại: bản S, xã K, huyện M, tỉnh Lai Châu - Có mặt.
3- Chị Vàng Xè N - Sinh năm:1989; Trú tại: bản S, xã K, huyện M, tỉnh Lai Châu - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 05 tháng 9 năm 2018, Sau khi đi uống rượu về, C nghe tiếng chửi phát ra từ nhà Hù Chà Ch, nên C đã đi sang nhà Ch, khi đến nơi C thấy Ch đang ngồi một mình bên cạnh bếp và lẩm bẩm chửi, nên C bảo với Ch ―chửi nhỏ thôi‖, Ch nói lại ―kệ tôi, chửi hay không là việc của tôi‖. Biết Ch là người già, yếu hay chửi lẩm bẩm, nên C không nói gì ngồi hút thuốc lào, lúc này C nhìn thấy Ch có đeo 01 chiếc túi vải màu đen phía sau lưng, do thi thoảng thấy Ch lấy tiền trong chiếc túi này ra để chi tiêu nên C đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong chiếc túi này của Ch. Sau khi hút thuốc lào xong, C đi vòng ra sau lưng của Ch và giật chiếc túi vải Ch đang đeo phía sau lưng của Ch, nhưng do có dây đeo chắc nên không giật được. Thấy vậy, cứu dùng tay bóp vào cổ Ch và đẩy Ch ngã nghiêng sang bên trái về phía sau, nằm đè lên chiếc túi. Trong lúc giằng co C dùng dây của túi vải siết chặt vào cổ Ch khiến Ch bất tỉnh, thấy Ch vẫn còn thở nhưng không kháng cự được nữa, c đã lấy chiếc túi vải của Ch và đi về nhà. Khi về đến nhà thấy trong túi vải có 1.200.000đồng, C lấy toàn bộ số tiền, rồi đi bộ xuống khu vực trạm Y tế xã Kan Hồ tìm mua Heroin về sử dụng. Khi đi đến khu vực trạm Y tế xã Kan Hồ, C gặp và mua được 01 gói Heroine với số tiền 50.000đồng, mua được Heroine Ch đem về sử dụng hết, sau khi sử dụng Heroine C lấy đất đá cho vào trong túi vải cướp được của Ch vứt xuống tà luy âm phía sau nhà C, số tiền cướp được còn lại là 1.150.000đồng, C cho vào trong túi nilon màu hồng cất giấu tại chuồng lợn nhà C. Sáng ngày 06/09/2019 Hù Chà Ch đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc. Quá trình điều tra C đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình và thu giữ số tiền còn lại 1.150.000đồng C đã chiếm đoạt được của Ch.
Qua giám định, tại bản Kết luận giám định số: 380//GĐ – KTHS, ngày 14/9/2018, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu về số tiền thu giữ của Hù Chà C chiếm đoạt của Hù Chà Ch đã kết luận số tiền 1.150.000đồng ( gồm 05 tờ tiền VNĐ mệnh giá 200.000đồng; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 100.000đồng; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 50.000đồng) gửi đến giám định đều là tiền thật.
Tại Cáo trạng số: 06/ CT - VKS - MT, ngày 28 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo Hù Chà C về tội " Cướp tài sản" theo điểm e khoản 2 Điều 168 BLHS.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hù Chà C phạm tội "Cướp tài sản". Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168 BLHS, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, điểm s, điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù. Về hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị hại số tiền 1.150.000 đồng và 01 chiếc túi vải màu đen đây là tài sản hợp pháp của người bị hại.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa. Sau khi phân tích về nguyên nhân, mục đích, hành vi phạm tội, mức độ nguy hiểm cho xã hội. Người bào chữa nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát viên đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s, điểm t, điểm h cho bị cáo và áp dụng khoản 1 Điều 54 xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, nhất trí với ý kiến bào chữa của người bào chữa, không có ý bổ sung, nhất trí luận tội của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận và không có ý kiến kiến nghị, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Chỉ có ý kiến xin hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp.
Bị hại tại phiên tòa có ý kiến xin lại số tiền 1.150.000đồng do bị cáo chiếm đoạt, hiện đang tạm giữ và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[ 2 ] Bị cáo Hù Chà C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ vụ án, Hội đồng xét xử khẳng định vào khoảng 23 giờ ngày 05/9/2018, tại nhà của Hù Chà C, thuộc bản S, xã K, huyện M, tỉnh Lai Châu, Hù Chà C sinh năm: 1989, đã có hành vi dùng vũ lực đối với Hù Chà Ch, sinh năm 1944 làm cho Ch không thể kháng cự được, chiếm đoạt của Ch số tiền 1.200.000đồng. Hành vi của Hù Chà C đã vào phạm tội ― Cướp tài sản‖ theo điểm e khoản 2 Điều 168 BLHS. Khoản 2 Điều 168 BLHS có mức hình phạt từ 7 năm đến 15 năm.
[ 3 ] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của Bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, quyền sở hữu tài sản của người khác là bất khả xâm phạm. Tuy nhiên khi xem xét hình phạt hội đồng xét xử cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như động cơ, mục đích, nguyên nhân phạm tội của bị cáo.
[ 4 ] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân, bị cáo Hù Chà C là người nghiện chất ma túy. Ngày 20/5 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mường Tè xử phạt 12 tháng tù về tội‖ trộm cắp tài sản‖ bị cáo đã thi hành xong tính đến thời điểm phạm tội ― Cướp tài sản‖ bị cáo đương nhiên được xóa án tích.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng bị cáo Hù Chà C luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Trước khi bị bắt, bị cáo đã giúp đỡ cơ quan pháp luật trong việc phát hiện 02 vụ án về ma túy tại xã K, đã được cơ quan Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xác nhận, bị cáo đã chủ động đề nghị vợ bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 50.000đồng mà bị cáo đã tiêu sài sau khi chiếm đoạt được; bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo. Xét thấy hành vi của bị cáo Hù Chà C thực hiện là rất nghiêm trọng, bản thân bị cáo đã bị xét xử về tội chiếm đoạt tài sản nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo không tự tu dưỡng rèn luyện mà vẫn thực hiện hành vi cướp tài sản của người khác; động cơ, nguyên nhân bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do bị cáo nghiện chất ma túy muốn có tiền để mua ma túy sử dụng nên khi bị cáo nhìn thấy Hù Chà Ch đeo túi tiền trên người C đã nảy sinh ý định cướp số tiền của Ch. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 54 về áp dụng hình phạt dưới khung đối với bị cáo.
[ 5 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai bị cáo tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo là người lao động tự do, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung với bị cáo.
[ 6 ] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bội thường Hội đồng xét xử không xem xét.
[ 7 ] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc túi vải màu đen, có dây đeo bị đứt một đầu, hiện đang thu giữ và số tiền 1.150.000 đồng tiền VNĐ đây là tài sản của Hù Chà Ch, do Hù Chà C chiếm đoạt cần phải trả lại cho Hù Chà Ch.
[ 8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thuộc hộ nghèo theo quy định của Chính phủ. Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí, Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hù Chà C.
Từ những đánh giá phân tích nêu trên, xét thấy các ý kiến đề nghị của kiểm sát viên và một phần ý kiến người bào chữa là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
1. Áp dụng điểm e khoản 2 điều 168; điểm b, điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hù Chà C phạm tội " Cướp tài sản". Xử phạt bị cáo Hù Chà C 07 năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm gam là ngày 06/9/2018.
2. Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bị hại Hù Chà Ch - Sinh năm 1944; Địa chỉ: bản S, xã K, huyện M, tỉnh Lai Châu gồm: 01 chiếc túi vải màu đen, có dây đeo bị đứt một đầu và số tiền 1.150.000 đồng tiền VNĐ, hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, theo biên bản lập ngày 28/1/2019.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, có mặt bị hại. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Thi hành án hình sự; - VKSND huyện; - Thi hành án dân sự huyện; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; Bị hại - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Đỗ Mạnh Trang |