- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Q. cùng Ma Văn Ch. tàng trữ chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN CHIÊM HÓA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2019/HSST Ngày 27/02/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Hữu Việt
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quốc Văn Tài
2. Bà Tưởng Thị Thu
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa tham gia phiên tòa: Ông Ma Công Liêu, Kiểm sát viên VKSND huyện Chiêm Hóa.
Ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2019/TLST - HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/QĐXXST - HS ngày 13/02/2019 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Dƣơng Văn Q.- Sinh ngày 29/01/1992; Nơi ĐKHKTT: Xóm T., xã K., huyện ., tỉnh N. B.; Chỗ ở hiện nay: Thôn N. 2, xã Y., huyện C. H., tỉnh T. Q.; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên bố: Dương Văn Q. (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T. (đã chết); Vợ, con: Chưa có;
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 45 phút ngày 17/12/2018 tại thôn Gia Kè, xã Hòa Phú, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, tổ công tác Công an huyện Chiêm Hóa lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Dương Văn Q.về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 03 gói nhỏ bên ngoài gói bằng túi nilon màu trắng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, Quý khai là Methamphetamine mục đích để sử dụng.
Tại biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy hồi: 20 giờ 30 phút ngày 17/12/2018 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đối với Dương Văn Q., kết quả: (+) Dương tính. Có chất ma túy trong cơ thể Q..
Tại kết luận giám định số: 93/GĐKTHS ngày 19/12/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất tinh thể màu trắng có trong 03 gói nhỏ thu giữ của Dương Văn Q. là Methamphetamine, Có tổng khối lượng là 1,851gam (một phảy tám năm một gam).
Quá trình điều tra Q. khai nhận: Sáng ngày 16/12/2018, Q. đi xe ôtô khách xuống thành phố Hà Nội, mục đích tìm mua ma túy đá về sử dụng cho bản thân. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Q. đến bên xe khách Gia Lâm (thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội), Q. xuống xe đi bộ thì gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, mua được 01 gói ma túy có đặc điểm bên ngoài được gói bằng nilon màu trắng bên trong là ma túy với giá 1.000.000 (một triệu đồng), Q. đi xe ôtô khách về nhà san ra một ít để sử dụng bằng cách đốt hít vào cơ thể, số còn lại Q. chia thành 03 gói nhỏ bên ngoài gói bằng nilon màu trắng cất giấu cả 03 gói vào túi áo đang mặc. Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 17/12/2018, Quý đem theo 03 gói ma túy đang ở thôn G., xã H., huyện C. H. đi chơi thì bị phát hiện lập biên bản bắt giữ như nêu trên.
Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 05/CT-VKSCH ngày 10/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố Dương Văn Q.về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Văn Q.tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung đã khai tại giai đoạn điều tra, không phát sinh tình tiết mới. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Dương Văn Q. từ 16 tháng đến 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hạn tù tính từ ngày 17/12/2018. Tiếp tục giam bị cáo để thi hành án.
Do bị cáo phạm tội chưa có vụ lợi, bản thân không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với số Methamphetamine thu giữ niêm phong trong 01 phong bì còn nguyên vẹn, các mép dán kín, có chữ ký xác nhận của bị cáo và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
Ngoài ra đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xét thấy:
1. Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên và Cơ quan điều tra Công an huyện; Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện, trong quá trình bắt quả tang, khởi tố, điều tra, truy tố, thủ tục Tạm giữ, tạm giam đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã bị Công an huyện Chiêm Hóa quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về áp dụng pháp luật: Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSCH ngày 10/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố Dương Văn Q.về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Văn Q.khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp nội dung kết luận điều tra và bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Dương Văn Q.có hành vi mua 01 gói nhỏ khai nhận là ma túy đá, đã sử dụng 01 phần và còn lại 03 gói đang tàng trữ nhằm sử dụng, chưa có dấu hiệu để bán, số còn lại đã xác định có khối lượng là 1,851gam, được giám định và kết luận là Methamphetamine, nên việc truy tố với Dương Văn Q.về một tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như trong bản Cáo trạng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách quản lý về chất ma túy của nhà nước. Vì vậy cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
3. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Dương Văn Q.tàng trữ 1,851gam Methamphetamine là đủ dấu hiệu truy tố theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết định khung hình phạt khác.
4. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo:
Tại giai đoạn điều tra cho đến khi bị xét xử tại phiên tòa bị cáo Dương Văn Q.khai báo thành khẩn, nhận tội, không yêu cầu người bào chữa; bản thân bị cáo có bố và mẹ tham gia kháng chiến chống Mỹ được Nhà nước ghi nhận, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo Dương Văn Q. không có tình tiết tăng nặng, chưa có tiền án, tiền sự, có hai tình tiết giảm nhẹ, nhưng số lượng ma túy là loại Methamphetamine gần bằng 1/2 mức tối đa quy định khoản 1 Điều 249 BLHS, nên xét xử bị cáo mức án thấp hơn mức trung bình giữa trong khung hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị là hợp lý.
5. Vật chứng liên quan đến vụ án: Đối với số Methamphetamine thu giữ niêm phong trong 01 phong bì còn nguyên vẹn, các mép dán kín, có chữ ký xác nhận của bị cáo và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang cần tịch thu tiêu hủy
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Dương Văn Q. quá trình điều tra không xác minh được tên, tuổi, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét và xử lý.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Bị cáo Dương Văn Q.phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Dƣơng Văn Q.01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo để thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy đối với số Methamphetamine thu giữ được của bị cáo, hiện niêm phong trong 01 phong bì còn nguyên vẹn, các mép dán kín, có chữ ký xác nhận của Dương Văn Q.và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/01/2019 giữa cơ quan điều tra công an huyện Chiêm Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016 - UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH khóa 14:
Bị cáo Dương Văn Q.phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Căn cứ điểm m khoản 2 Điều 61; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Dương Văn Q.có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/02/2019).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh TQ; - VKSND huyện CH; - Sở tư pháp; - Cơ quan ĐT CA huyện CH; - Cơ quan THAHS CA huyện CH; - Chi cục THADS huyện CH; - Phòng HSNV, CA tỉnh TQ; - Trại tạm giam CA tỉnh TQ; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Hữu Việt |