vanban.org

Bản án 06/2019/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 06/02/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/02/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận việc rút một phần kháng của bị cáo Huỳnh Thị TD (T) về tội danh và hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị TD (T) phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng: điểm đ khoản 2, Điều 134; điểm c, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận việc rút một phần kháng của bị cáo Huỳnh Thị TD (T) về tội danh và hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HS-PT
Ngày: 26 – 02 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lâm

Các Thẩm phán:

Ông Trương Đình Nghệ

Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

Thư ký phiên toà: Ông Võ Văn Tuấn Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Thu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2018/TLPT-HS ngày 21 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Huỳnh Thị TD do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2018/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện CTA, tỉnh Hậu Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

HUỲNH THỊ TD (Tên gọi khác: T), sinh năm 1979 tại huyện CTA, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: ấp TrH A, xã TX, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H và bà Lê Thị L; có chồng Lý Văn L1 (đã ly hôn) và 05 người con (lớn nhất sinh năm 2002 và nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị được Tòa án triệu tập:

Bị hại: Huỳnh Văn B (Tý) (Có mặt)

Nơi cư trú: ấp TrH A, xã TX, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 27/4/2018, giữa Huỳnh Văn B và Huỳnh Thị TD xảy ra cự cãi, trong người B đã có rượu. Trong lúc cự cãi, B dùng tay đánh vào mặt của TD nên TD vào nhà lấy con dao yếm dài 40,5cm, cán bằng gỗ tròn dài 14cm, lưỡi bằng sắt, dài 26,5cm, rộng 7cm, mũi dao bầu nhọn đi ra tiếp tục cự cãi với B, B lại dùng tay đánh vào mặt TD nên TD dùng còn dao đang cầm trên tay chém trúng một nhát trúng vào đùi trái của B gây thương tích. Hai bên tiếp tục cự cãi, B vào nhà lấy dao ra nhưng được can ngăn nên B đi về nhà, còn TD đến gặp ông Đỗ Văn T là Trưởng Công an ấp TrH A để trình báo sự việc.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 139/TgT ngày 31/8/2018 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Hậu Giang kết luận tỷ lệ thương tích tổn hại đến sức khỏe hiện tại đối với Huỳnh Văn B là 13% (Mười ba phần trăm), vết thương do vật sắc bén gây nên.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2018/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện CTA, tỉnh Hậu Giang quyết định:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2, Điều 134; điểm c, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị TD phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị TD 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 4 năm. Thời gian tính từ ngày xét xử sơ thẩm ngày 20 tháng 11 năm 2018.

2. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã TX, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang quản lý và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

3. Trong thời gian thử thách, bị cáo Huỳnh Thị TD cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo TD phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 585; 590 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Huỳnh Thị TD bồi thường cho bị hại Huỳnh Văn B số tiền tổng cộng là 13.307.000 đồng.

Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu lãi suất đối với số tền nêu trên tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/11/2018, bị cáo Huỳnh Thị TD kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, bị cáo không thống nhất về tội danh, hình phạt và số tiền bồi thường cho bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo rút một phần kháng cáo về tội danh và hình phạt. Bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo về số tiền bồi thường cho bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cáo có kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút một phần kháng cáo và yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét về số tiền bồi thường thiệt hại. Xét thấy, cấp sơ thẩm cũng đã xem xét toàn bộ giấy tờ hợp lệ trong hồ sơ để quyết định trách nhiệm bồi thường của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, chấp nhận việc rút một phần kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo về bồi thường thiệt hại của bị cáo Huỳnh Thị TD, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Thị TD có đơn kháng cáo, xét đơn kháng cáo của bị cáo có hình thức và nội dung phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Qua kết quả tranh tụng, đối chiếu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Vào khoảng 17 giờ ngày 27/4/2018, sau khi có xảy ra cự cãi với bị hại và bị hại có dùng tay đánh vào vùng mặt bị cáo. Sau đó bị cáo vào nhà lấy một con dao yếm chém vào vùng đùi của bị hại gây thương tích, theo kết quả giám định là 13%. Do vậy, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có kháng cáo về tội danh và hình phạt quyết định đối với bị cáo, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo rút một phần kháng cáo về nội dung này, xét đây là sự tự nguyện của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với kháng cáo của bị cáo không chấp nhận bồi thường tiền thuốc và tiền công lao động, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo đã thành niên, bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do vậy, bị cáo phải tự chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà bị cáo đã gây ra. Căn cứ vào hóa đơn chứng từ điều trị mà bị hại cung cấp là 7.307.000 đồng, tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thống nhất số tiền này và qua xem xét các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ là hợp lệ nên được chấp nhận. Đối với số tiền 6.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, bị hại là lao động có thu nhập ổn định, khi bị cáo gây thương tích thì bị hại đã mất một khoản thu nhập, đồng thời cũng cần phải có thời gian điều trị và hồi phục sức khỏe. Mặt khác, bị hại cũng không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường về tổn thất tinh thần cho bị hại theo quy định của pháp luật. Vì vậy, với những thiệt hại thực tế phát sinh từ hành vi phạm tội của bị cáo, cấp sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường thêm số tiền 6.000.000 đồng cho bị hại là phù hợp. Mức bồi thường này là không cao, tương xứng với hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, kháng cáo của bị cáo không có cơ sở chấp nhận.

Vì những lẽ trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận việc rút một phần kháng của bị cáo Huỳnh Thị TD (T) về tội danh và hình phạt. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về tiền bồi thường thiệt hại. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị TD (T) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm đ khoản 2, Điều 134; điểm c, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị TD (T) 02 (Hai) năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/11/2018).

Giao bị cáo Huỳnh Thị TD (T) cho Ủy ban nhân dân xã TX, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

“Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 585; 590 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Huỳnh Thị TD bồi thường cho bị hại Huỳnh Văn B số tiền tổng cộng là 13.307.000 đồng (Mười ba triệu ba trăm lẻ bảy nghìn đồng).

Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền bị cáo có trách nhiệm bồi thường nếu bị cáo chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả và lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 665.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hánh án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ