- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn S phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn S và người bị hại Cao Thị T, sửa Bản án sơ thẩm số 32/2018/HS-ST, ngày 14/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2019/HS-PT Ngày: 23-01-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy .
Các Thẩm phán:
Ông Ma Quốc Tuấn
Ông Hoàng Hữu Truyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lệ Quyên– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Dương Xuân Hổ – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2018/TLPT-HS ngày 24 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Hà Văn S, do có kháng cáo của bị cáo và người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2018/HS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Bị cáo có kháng cáo: Hà Văn S; Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 04/12/1975 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 05/12; Dân tộ c : Tày; Giớ i tí nh : Nam; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn M (đã chết) và bà Bùi Thị V sinh năm 1955; Có vợ là Trịnh Thị A sinh năm 1983 (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại tại địa phương. Có mặt.
- Người bị hại có kháng cáo: Bà Cao Thị T, sinh năm 1972; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
- Người làm chứng:
1/ Ông Hà Văn Tr, sinh năm 1959. Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
2/ Bà Đặng Thị D, sinh năm 1979. Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a
, nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau :
Vào khoảng 14 giờ, ngày 16 tháng 6 năm 2018, tại cánh đồng Nà Phầy thuộc thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Hà Văn S đi chăn trâu thì gặp bà Cao Thị T đang bế cháu là Hà Tiến Đ (sinh năm 2015) cũng đang chăn trâu gần đó. Do bực tức việc ngày 14/6/2018 bà T trồng cây mít ở giáp ranh giữa khu đất của hai nhà, S tiến đến gần vị trí bà T đang đứng, xoa đầu cháu Đ và nói “Tý, mày trồng cây mít mười năm hay hai mươi năm?”. Thấy thái độ của S không được vui vẻ nên bà T bế cháu Đ quay người đi chỗ khác, bất ngờ S dùng tay phải rút trong túi quần phải ra một con dao nhọn dài 19cm, đồng thời dùng tay trái rút vỏ bao khỏi lưỡi dao, tay phải cầm dao đâm vào lưng bà T. Lúc đó, ông Hà Văn Tr chạy đến can ngăn S, còn bà T bỏ chạy và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 70/GĐPY ngày 28/6/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Tỷ lệ thương tật toàn bộ là 13,43% (trong đó tỷ lệ thương tật do thương tích là 12,55%;tỷ lệ thương tật do phẫu thuật dẫn lưu màng phổi là 0,88%). Vật gây thương tích là vật sắc, nhọn”.
Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HS-ST, ngày 14/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn tuyên bố bị cáo Hà Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hà Văn S 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành bản án.
- Về án phí: Bị cáo Hà Văn S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng của vụ án.
Ngày 26/11/2018, bị cáo Hà Văn S và người bị hại bà Cao Thị T đều có đơn kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HS-ST, ngày 14/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn với nội dung kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Văn S và người bị hại Cao Thị T thay đổi nội dung kháng cáo theo hướng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người bị hại, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2018/HS-ST, ngày 14/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn về phần hình phạt đối với bị cáo Hà Văn S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo và người bị hại phù hợp theo quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, được Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng cáo theo quy định.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Văn S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Ngày 16 tháng 6 năm 2018 khi S đi chăn trâu tại cánh đồng Nà Phầy thuộc thôn N, xã Đ, huyện B tỉnh Bắc Kạn thì gặp bà Cao Thị T cũng đang có mặt tại đó, do bực tức việc trước đó bà Cao Thị T trồng cây mít tại khu đất giáp ranh giữa đất nhà S và đất nhà bà T, S dùng dao nhọn dài 19cm (phần lưỡi dao dài 10cm, điểm rộng nhất là 01cm) đâm vào khuỷu tay trái và lưng của bà T, làm bà T bị thương với tổng tỷ lệ thương tật toàn bộ là 13,43%. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng, Kết luận giám định pháp y và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo Hà Văn S đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xét xử bị cáo về tội trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Hà Văn S và người bị hại Cao Thị T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo nhận thức rõ việc làm của mình là sai trái những vẫn cố ý thực hiện, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà bị cáo dùng hung khí nguy hiểm xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe của bà T. Mặc dù bà Tươi đã bỏ chạy nhưng bị cáo vẫn cố tình đuổi theo và tiếp tục đâm vào lưng của bà T. Hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh xã hội tại địa phương.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 là “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự, người bị hại tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Hà Văn S 30 (ba mươi) tháng tù là khá cao. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người bị hại, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước nhưng vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Án phí: Kháng cáo của bị cáo Hà Văn S được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn S và người bị hại Cao Thị T, sửa Bản án sơ thẩm số 32/2018/HS-ST, ngày 14/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hà Văn S 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình.
2. Án phí: Bị cáo Hà Văn S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Phòng Hồ sơ - CA tỉnh Bắc Kạn; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - TAND huyện B; - VKSND huyện B; - CA huyện B; - CCTHADS huyện B; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hà Quang Huy |