vanban.org

Bản án 06/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn T ph m tội “Giết người”. Xử ph t: Bị cáo Nguyễn T 18 (mười tám) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 29/3/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn T - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HS-ST
Ngày: 29-01-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.

Thẩm phán: Ông Lê Quân Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Đức Thành;

Bà Nguyễn Thị Thùy Trang;

Bà Trần Thị Đẹp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Tống Phi Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2019, t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 106/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 05/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên bị cáo: Nguyễn T, sinh năm 1968 t i Thành phố Hồ Chí Minh; không có nơi cư trú; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 1987, bị Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”; năm 1991, bị Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đưa đi tập trung cải t o 03 năm về hành vi “Trộm cắp tài sản”; năm 1993, bị Tòa án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2003, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị bắt t m giam từ ngày 29/3/2018 đến nay; có mặt.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Bà Đặng Thùy L, Luật sư của Văn phòng Luật sư P, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương, có mặt.

Bị hại: Bùi Đông S, sinh năm 1971 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Sầm Ngọc H1, sinh năm 1941 – là mẹ ruột của bị h i; nơi thường trú: Số Y, khu phố B, phường B1, thị xã D, tỉnh Bình Dương, có mặt.

Người làm chứng:

- Bà Trương Thu H1, sinh năm 1953; nơi thường trú: Số Z, đường H, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1979; nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang, vắng mặt.

- Bà Lý Ngọc P1, sinh năm 1981; nơi thường trú: Số M, Quốc lộ N, khu phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Nguyễn T, sinh năm 1968, không có nơi cư trú nhất định, thường sống lang thang t i khu vực ngã ba A thuộc khu phố T, phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương và quen biết với ông Bùi Đông S, sinh năm 1971, cư trú t i khu phố B, phường B1, thị xã D, tỉnh Bình Dương và làm nghề ch y xe ôm t i khu vực ngã ba A.

Khoảng 07 giờ ngày 29/3/2018, T đi bộ đến ngã ba A trước cổng trường Đ i học D thuộc phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương thì gặp ông S đang ngồi uống bia một mình bãi đất trống ven đường. T đến rồi cùng ngồi uống bia với ông S, một lúc sau ông S nói T đi xin thuốc lá thì T nói “Đưa tiền thì đi mua chứ không xin”, hai người cự cãi qua l i, ông S dùng đèn pin đánh vào đầu T một cái. Bị đánh, T ch y đến chốt gác của dân phòng bỏ trống gần đó lấy một dao mũi nhọn mà T thường sử d ng hằng ngày. T quay l i cầm dao trên tay phải đâm một nhát từ phía sau trúng vào vùng lưng trái của ông S, ông S quay người l i đối diện với T và dùng đèn pin đánh trả thì T tiếp t c dùng dao đâm một nhát trúng vào cánh tay trái và một nhát trúng vào ngực trái, làm ông S bị thủng tim g c xuống đường tử vong t i chỗ. T bỏ dao xuống đường và ngồi c nh ông S. Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương đến lập biên bản bắt người ph m tội quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) dao, 01 (một) đèn pin, 01 (một) đôi dép.

Bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 231/GĐPY ngày 06/04/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của bị h i Bùi Đông S là do choáng mất máu cấp do vết thương thấu ngực gây thủng tim.

Bản Kết luận giám định số 05/SV-PC54 ngày 15/04/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

- Dấu vết trên 01 (một) dao dài 29 cm gửi đến giám định: Có máu người thuộc nhóm máu B.

- Dấu vết máu thu t i hiện trường: Có máu người thuộc nhóm máu B.

- Máu n n nhân Bùi Đông S, sinh năm 1971: Thuộc nhóm máu B.

Quá trình điều tra, người đ i diện hợp pháp của bị h i Bùi Đông S là bà Sầm Ngọc H1 (là mẹ ruột của bị h i) yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt h i.

T i Cáo tr ng số 72/CT-VKS.P2 ngày 28/11/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định: Truy tố bị cáo Nguyễn T ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương để xét xử về tội “Giết người” theo quy định t i điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội với nội dung giữ nguyên nội dung cáo tr ng đã truy tố. Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi ph m tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm ph m đến tính m ng của bị h i, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã thực hiện hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm bị h i. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi ph m tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên ph t bị cáo T mức hình ph t từ 18 (mười tám) đến 20 (hai mươi) năm tù về tội “Giết người”. Về trách nhiệm dân sự: Người đ i diện hợp pháp của bị h i không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt h i nên đề nghị không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo T trình bày: Gửi lời xin lỗi của bị cáo đến người đ i diện hợp pháp của bị h i. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi ph m tội của bị cáo: Bị cáo lớn tuổi hơn bị h i nhưng bị cáo vẫn tôn trọng bị h i, bị h i yêu cầu bị cáo đi xin thuốc lá cho bị h i hút, bị h i nhỏ tuổi hơn nhưng có thái độ cư xử không đúng với bị cáo, bị cáo bực tức nhưng không có hành vi gì làm tổn thương bị h i, chỉ cãi nhau qua l i với bị h i. Bị h i đánh bị cáo bằng đèn pin, đèn pin có khả năng gây sát thương cao, đánh vào đầu là vùng nguy hiểm trên cơ thể của bị cáo, bị h i xúc ph m danh dự, sức khỏe của bị cáo, bị cáo ức chế không kiểm soát được hành vi, tinh thần bị kích động do hành vi của bị h i. Bị cáo từng bị ngã xuống sông, ngã xuống giếng nên bị ảnh hư ng đến trí não, tinh thần, tâm lý. Bị cáo không bình tĩnh nên đã dùng dao đâm bị h i, bị h i tiếp t c đánh bị cáo, bị cáo không bỏ ch y được nên tiếp t c đâm bị h i. Sau khi đâm bị h i, bị cáo đã rất hối hận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Ph m tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của n n nhân gây ra” quy định t i điểm e khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không còn cha mẹ, không có nhà cửa, người thân, bị cáo chỉ học hết lớp một nên nhận thức về pháp luật h n chế. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quyết định mức hình ph t dưới mức thấp nhất của khung hình ph t đối với bị cáo.

Người đ i diện hợp pháp của bị h i yêu cầu xét xử bị cáo theo đúng quy định của pháp luật và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt h i.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi mẹ của bị h i, mong Hội đồng xét xử xem xét áp d ng mức hình ph t nhẹ nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra – Công an tỉnh Bình Dương, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, truy tố đúng theo quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố t ng khác không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

. T i phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Do đó, có đủ cơ s kết luận: Xuất phát từ việc bị h i Bùi Đông S dùng đèn pin đánh bị cáo Nguyễn T do mâu thuẫn trong qua trình ngồi ăn uống nên vào khoảng 07 giờ ngày 29/3/2018, t i phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn T đã thực hiện hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng lưng trái của bị h i S, khi bị h i S chống trả thì bị cáo tiếp t c dùng dao đâm vào cánh tay trái và ngực trái của bị h i S. Hậu quả làm bị h i S tử vong t i hiện trường.

. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết rõ hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng lưng trái và ngực trái của bị h i có khả năng tước đo t tính m ng của bị h i và trái pháp luật, chỉ vì bị h i dùng đèn pin đánh vào người bị cáo mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi dùng dao đâm bị h i, thể hiện tính côn đồ, ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Hành vi ph m tội của bị cáo đã xâm ph m trực tiếp đến tính m ng của bị h i, gây đau thương mất mát cho gia đình bị h i, gây tâm lý hoang mang cho người dân sinh sống t i khu vực, ảnh hư ng đến tình hình trật tự trị an t i địa phương. Bị cáo có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về tội ph m mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Như vậy, cáo tr ng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo về tội “Giết người” theo quy định t i điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Dương tình tr ng người dân giải quyết mâu thuẫn bằng hung khí ngày càng gia tăng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi ph m tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp d ng mức hình ph t tương xứng với hành vi ph m tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo d c đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi ph m tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị h i cũng có một phần lỗi. Do đó, cần áp d ng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đề nghị của đ i diện Viện Kiểm sát về áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cho bị cáo là có căn cứ và mức hình ph t đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, việc đ i diện Viện Kiểm sát không đề nghị áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị h i cũng có một phần lỗi đối với bị cáo là chưa phù hợp.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo đề nghị áp d ng tình tiết giảm nhẹ “Ph m tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của n n nhân gây ra” quy định t i điểm e khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù bị h i thực hiện hành vi dùng đèn pin đánh bị cáo trước, sau đó bị cáo ch y đến chốt gác của dân phòng gần đó lấy dao và đâm bị h i. Như vậy, hành vi của bị h i không đến mức gây kích động về tinh thần đối với bị cáo vì bị cáo vẫn có đủ thời gian để suy xét, nhận thức về hành vi của mình và quyết định. Do đó, không có căn cứ áp d ng tình tiết giảm nhẹ này đối với bị cáo mà chỉ có cơ s xem xét áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị h i cũng có lỗi theo quy định t i khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Người đ i diện hợp pháp của bị h i không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt h i nên không xem xét giải quyết.

. Về xử lý vật chứng: 01 (một) dao là công c thực hiện hành vi ph m tội nên tịch thu tiêu hủy; 01 (một) đôi dép, 01 (một) đèn pin không còn giá trị sử d ng nên tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo ph m tội và bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn T ph m tội “Giết người”.

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử ph t: Bị cáo Nguyễn T 18 (mười tám) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 29/3/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) dao dài 0,29 m, cán dao bằng gỗ dài 0,12 m, rộng 0,021 m, lưỡi dao bằng kim lo i màu trắng dài 0,17 m, bản lưỡi dao rộng nhất là 0,05 m; 01 (một) đôi dép quai kẹp màu xanh, trên dép có chữ THAILAND; 01 (một) đèn pin màu đen dài 0,46 m, đường kính thân đèn là 0,035 m, trên đèn pin phát hiện dấu vết máu.

Vật chứng thể hiện t i biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2018.

3. Án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015: Bị cáo Nguyễn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người đ i diện hợp pháp của bị h i được quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ