- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn Thành - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao Hồ Văn Th về cho UBND xã N T, huyện N Đ, tỉnh N A cùng phối hợp với gia đình để quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ Luật tố tụng Hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU NGHỆ AN ––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2019/HS-ST Ngày 26 - 02 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU- NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Duệ và ông Tôn Hoàng Đức.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tăng Thành Vương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu - tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 05/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Văn Th. Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 25 tháng 11 năm 1992 tại N Đ - N A.
Nơi cư trú: Xóm R - xã N T - huyện N Đ - tỉnh N A.
Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ văn hoá: Lớp 10/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hồ Văn D và bà Vũ Thị V. Vợ, con: Chưa có. Tiền án,tiền sự: Không. Bị bắt, tạm giam từ ngày 17/12/2018 đến ngày 31/01/2019 được áp dụng biện pháp cho Bảo lĩnh. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Việt C. Sinh ngày 28/9/1987.
Nơi cư trú: Khối 2A - Thị trấn T L - huyện Q C - tỉnh N A.
Nghề nghiệp: Cán bộ Công an. Có mặt.
2. Anh Nguyễn Đình Tr. Sinh ngày 28/02/1995.
Nơi cư trú: Khối 2A - Thị trấn T L - huyện Q C - tỉnh N A.
Nghề nghiệp: Cán bộ Công an. Có mặt.
3. Anh Nguyễn Trung Ng. Sinh ngày 02/10/1996.
Nơi cư trú: Khối 2A - Thị trấn T L - huyện Q C - tỉnh N A.
Nghề nghiệp: Cán bộ Công an. Có mặt.
4. Anh Võ Lê H. Sinh ngày 10/11/1994.
Nơi cư trú: Khối 2A - Thị trấn T L - huyện Q C - tỉnh N A.
Nghề nghiệp: Cán bộ Công an. Có mặt.
5. Anh Hồ Văn Q. Sinh ngày 19/8/1989.
Nơi cư trú: Xóm R - xã N T - huyện N Đ - tỉnh N A.
Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
1. Anh Lê Đình Nh - sinh ngày 16/4/1973.
Nơi cư trú: Bản B 3 - xã C B - huyện Q C - tỉnh N A.
Vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị X - sinh năm 1943.
Nơi cư trú: Bản B 3 - xã C B - huyện Q C - tỉnh N A.
Vắng mặt.
3. Anh Nguyễn Văn Ph - sinh ngày 01/4/1990.
Nơi cư trú: Bản B 2 - xã C B - huyện Q C - tỉnh N A.
Vắng mặt.
4. Anh Lê Đình S - sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Bản B 3 - xã C B - huyện Q C - N A.
Vắng mặt.
(Bà Nguyễn Thị X; các anh Lê Đình Nh, Lê Đình S, Nguyễn Văn Ph là
những người làm chúng trong vụ án).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 12/10/2018, tổ tuần tra kiểm soát thuộc đội cảnh sát giao thông Công an huyện Q C - N A gồm Nguyễn Việt C, Nguyễn Đình Tr, Nguyễn Trung Ng và Võ Lê H thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát, xử lý các phương tiện tham gia giao thông và những vi phạm về nồng độ cồn, không có giấy phép lái xe trên địa bàn. Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, tại Km 71+300 trên Quốc lộ 48 thuộc địa bàn bản B 3 - xã C B - huyện Q C, khi tổ công tác đang làm nhiệm vụ thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 37G1-675.91 do Hồ Văn Th điều khiển chạy hướng từ huyện Q H đi Q P nên ra hiểu lệnh dừng xe để kiểm tra hành chính về giấy tờ của người điều khiển và phương tiện. Qua kiểm tra, Hồ Văn Th không xuất trình được Giấy phép lái xe theo quy định, không có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô. Do đó về phía tổ tuần tra đã thông báo những lỗi vi phạm, hình thức xử lý và tiến hành lập biên bản vi phạm và biên bản tạm giữ phương tiện. Khi được hỏi về những thông tin của cá nhân và thông tin của phương tiện để ghi vào biên bản thì Hồ Văn Th không trả lời, khóa cổ xe lại và có những lời lẽ thiếu tôn trọng đối với tổ công tác. Do lúc đó tổ trưởng của tổ công tác là Nguyễn Việt C đang cùng thành viên khác trong tổ là Nguyễn Trung Ng tiến hành lập biên bản ở phía sau thùng xe ô tô tải tuần tra, cách vị trí đứng của Th khoảng 2 mét và quay lưng lại phía Th nên không thể sử dụng Camera nghiệp vụ gắn ở ngực áo để quay Video nên Võ Lê H đã dùng điện thoại cá nhân quay lại hình ảnh, hành vi, lời nói của Th nhằm phục vụ công tác xử lý về sau. Trong khi Võ Lê H đang quay Video thì Hồ Văn Th dùng tay giật điện thoại từ anh H để xóa các Video vừa quay. Thấy thế Nguyễn Việt C nói với Th: "Chúng tôi quay anh để thực hiện việc giám sát đối với người vi phạm, yêu cầu anh trả lại tài sản cho Đ/c H", tuy nhiên Th không chịu trả nên dẩn đến hai bên giằng co. Thấy vậy, Nguyễn Đình Tr đến cầm tay Th tạo điều kiện cho H lấy lại điện thoại. Quá trình giằng co đã làm Hồ Văn Th ngã xuống đường, khi đứng dậy Th đã dùng cùi chỏ tay phải đánh vào miệng Võ Lê H nên đã bị H và Tr khống chế, ghì mặt Th xuống nền đường. Do bị dập mặt xuống đường nên mũi, miệng của Hồ Văn Th chảy máu. Thấy sự việc xảy ra như vậy, tổ trưởng là Nguyễn Việt C yêu cầu các anh H và Tr thả Th ra, sau khi đứng dậy Th đã hô hoán "Công an Q C đánh dân, Công an Q C giết dân" đồng thời dùng điện thoại cá nhân của mình quay Video phát trực tiếp lên mạng xã hội Facebook, vừa quay Th vừa đe dọa anh H và nói "Tôi không làm được gì ông thì tôi làm với gia đình ông, một quả thôi là đi hết, cùng lắm là tôi đi tù"; rồi lại đe dọa tổ công tác "Công an Q C ba bốn thằng đập một thằng, bốn thằng bây tao cho đi một lượt, tao cho bây lên báo pháp luật hết". Tổ công tác tiếp tục yêu cầu Th cung cấp thông tin để làm việc nhưng Th không chịu hợp tác, khóa cổ xe và ngồi trên xe mô tô làm cho việc xử lý vi phạm không thực hiện được. Mãi cho đến khoảng 19 giờ cùng ngày khi có lực lượng tăng cường đến Th mới chịu hợp tác và sự việc mới được giải quyết.
Tại cơ quan điều tra, Hồ Văn Th thừa nhận sai phạm của bản thân và khai nhận toàn bộ hành vi chống người thi hành công vụ của mình.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q C thu giữ từ Hồ Văn Th 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại NVX, b iển kiểm soát 37G1-675.91; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy 37G1-675.91; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số XM 180846740; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy số XM 180846740; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy số 2316050041981. Tất cả đều mang tên Hồ Văn Q.
Ngoài ra còn thu giữ 27 Video được trích xuất từ Camera nghiệp vụ của tổ công tác và từ điện thoại của các anh Võ Lê H, Nguyễn Đình Tr và của Hồ Văn Th, toàn bộ số Video này được lưu trữ trong 04 USB và hiện đang được lưu trong Hồ sơ vụ án.
Trên cơ sở đó, Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 23/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q C, tỉnh N A quyết định truy tố ra trước Tòa án để xét xử Hồ Văn Th về tội ‘‘Chống người thi hành công vụ’’ theo quy định tại khoản 1 điều 330 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng quy định tại khoản 1 điều 330; các điểm i, s khoản 1 điều 51 BLHS. Xử phạt Hồ Văn Th từ 06 đến 09 tháng tù về tội "Chống người thi hành công vụ"; đề nghị trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại NVX, biển kiểm soát 37G1-675.91; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy 37G1-675.91; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số XM 180846740; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy số XM 180846740; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy số 2316050041981 cho anh Hồ Văn Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q C, của điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Q C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Về cơ bản Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng do Bộ luật tố tụng Hình sự quy định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn này.
Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận vào chiều ngày 12/10/2018, trên đường đi trên Quốc lộ 48 theo hướng từ huyện N Đ lên Q C khi đến địa phận bản B 3 - xã C B thuộc huyện Q C thì gặp tổ tuần tra cảnh sát giao thông của Công an huyện Q C đang làm nhiệm vụ. Khi cảnh sát giao thông ra tín hiệu dừng xe và yêu cầu xuất trình giấy tờ người và phương tiện để kiểm tra thì Hồ Văn Th không chấp hành, không xuất trình được Giấy phép lái xe theo quy định, không có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô; khi được hỏi về những thông tin của cá nhân và thông tin của phương tiện để ghi vào biên bản thì Hồ Văn Th không trả lời, khóa cổ xe lại và có những lời lẽ thiếu tôn trọng đối với tổ công tác. Ngoài ra còn dùng điện thoại cá nhân của bản thân quay Video hình ảnh những cán bộ cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ phát trực tiếp lên mạng xã hội Facebook rồi đe dọa, nói xấu những người đang thực thi nhiệm vụ. Khi bị ngăn cản thị Th đã dùng cùi chỏ tay phải đánh vào mặt anh Võ Lê H là cán bộ tổ công tác Công an huyện Q C đang làm nhiệm vụ. Hậu quả là đã làm đình trệ, cản trợ công tác của những người đang thi hành công vụ, sự việc kéo dài từ khoảng 16 giờ 45 phút cho đến 19 giờ cùng ngày cho đến lúc có lực lượng tăng cường đến thì Th mới chịu hợp tác và sự việc sau đó mới được giải quyết.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu trong Hồ sơ vụ án và những vật chứng được thu giữ; thấy rằng trong quá trình chống đối, xô xát với lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ như vậy, ngoài việc sử dụng tay đánh lại cán bộ Công an thì bị cáo còn dùng điện thoại cá nhân của bản thân quay Video hình ảnh những cán bộ cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ phát trực tiếp lên mạng xã hội Facebook rồi đe dọa, nói xấu những người đang thực thi nhiệm vụ. Ngoài việc không chấp hành quy định của pháp luật về việc tham gia giao thông, bị cáo còn có hành vi hành hung, chống đối quyết liệt làm cản trợ việc thi hành nhiệm vụ của những người đang thực hiện nhiệm vụ do cơ quan nhà nước phân công, thời gian kéo dài nhiều tiếng đồng hồ đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của cơ quan công quyền và công tác đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. Như vậy đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: bị cáo Hồ Văn Th đã có hành vi Chống người thi hành công vụ. Hành vi này đã hoàn thành và phải chịu trách nhiệm hình sự và các trách nhiệm khác liên quan tương ứng theo quy định của pháp luật. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Q C truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo quy định tại khoản 1 điều 330 BLHS là thỏa đáng và có cở sở.
Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, được gia đình, nhà trường, xã hội chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và có nhận thức nhất định về pháp luật nhưng do không có ý thức tu dưỡng và tuân thủ pháp luật, thiếu sự tôn trọng người khác và những nền tảng quản lý xã hội nên đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, đó là xâm phạm trật tự công cộng, chống đối người thi hành công vụ, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách tích cực, nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội của bản thân.
Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 điều 51 BLHS để vận dụng xử phạt đối với bị cáo khi lượng hình. Cần xử phạt nghiêm nhưng chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sỗng xã hội mà để cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ giúp bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội; đây đồng thời cũng là làm bài học răn đe, phòng ngừa, cảnh tỉnh chung.
Trách nhiệm dân sự: Trong vụ án này bị cáo đã có hành vi chống đối những người thi hành công vụ và dùng cùi chõ tay đánh vào mặt anh Võ Lê H. Nhưng không có ai yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường gì. Nên miễn xét.
Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại NVX, biển kiểm soát 37G1-675.91; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy 37G1-675.91; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số XM 180846740; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy số XM 180846740; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy số 2316050041981. Đây là xe máy của anh Hồ Văn Q (anh trai bị cáo) cùng những giấy tờ liên quan đến việc chứng nhận quyền sở hữu và sự dụng xe máy, do anh Q đi làm ăn xa không ở nhà nên Hồ Văn Th mượn xe sử dụng cho việc đi lại.
Chiếc xe này và những giấy tờ liên quan bị thu giữ không sử dụng cho mục đích phạm tội, không phải do phạm tội mà có. Cần căn cứ quy định tại điều 106 BLTTHS để tuyên trả lại cho anh Hồ Văn Q.
Đối với những chiếc điện thoại thu giữ của các anh Võ Lê H, Nguyễn Đình Tr và của Hồ Văn Th, quá trình điều tra đã lại cho chủ sở hữu, nay không xem xét nữa.
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 330; các điểm i, s khoản 1 điều 51; điều 65 BLHS. Xử phạt Hồ Văn Th 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội "Chống người thi hành công vụ".
Giao Hồ Văn Th về cho UBND xã N T, huyện N Đ, tỉnh N A cùng phối hợp với gia đình để quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 62 luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 106 BLTTHS. Tuyên trả lại cho anh Hồ Văn Q 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại NVX, biển kiểm soát 37G1-675.91, xe đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy 37G1-675.91; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số XM 180846740; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy số XM 180846740; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô, xe máy số 2316050041981.
Tất cả có đặc điểm như mô tả trong biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 10 giờ ngày 23/01/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Q C.
Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ Luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc Hồ Văn Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Việt C, Nguyễn Đình Tr, Nguyễn Trung Ng và Võ Lê H. Tất cả đều được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Hồ Văn Q. Được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết công khai.
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Công an huyện Q C; - VKSND huyện Q C; - Bộ phận HSNV Công an huyện Q C; - Phòng KTNV&THAHS - TAND tỉnh N A; - Chi cục THADS huyện Q C; - Sở Tư pháp N A; - Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | Võ Văn Dũng |