- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 06/2019/HS-ST Ngày: 01/3/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Cảnh.
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Lê Đức Dũng.
+ Bà Lại Thị Thúy Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Báu- Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Văn B, sinh năm: 1996 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp LM1, xã XĐ, huyện CM, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn) 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 01/CQĐT-ĐTTH ngày 22/11/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 45/LCCT-VKS ngày 22/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 03/HSST-LCĐKNCT ngày 28/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt)
- Bị hại: Anh Phạm Ngọc T, sinh năm: 1975.
Nơi cư trú: Ấp LM 1, xã XĐ, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
(Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Vũ Hoàng K, sinh năm: 1975.
Nơi cư trú: Ấp LM 2, xã XĐ, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
(Vắng mặt)
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Thanh Đ; Người đại diện hợp pháp bà Phan Thị N. (anh Đ, bà N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/10/2017, Trần Ngọc B và Phạm Ngọc T, cùng ngụ ấp LM 1, xã XĐ, huyện CM rủ nhau đi trộm cắp gà để bán lấy tiền tiêu xài. Tiến hành, khoảng 20 giờ cùng ngày, T và B mang theo 02 bao tải đi bộ đến nhà anh Phạm Ngọc T, Cư trú tại: Ấp LM 1, xã XĐ, huyện CM để trộm cắp gà. Đến nơi, cả hai leo qua hàng rào lưới B40 đi đến chuồng gà, T cầm bao tải để cho B bắt tổng cộng 23 con gà bỏ vào bao. Sau đó, B và T mỗi người vác một bao gà đem ra ngoài cách nhà anh T 50m cất giấu, xong cả hai đi đến quán cà phê “SR” thuộc ấp LM 1, xã XĐ, huyện CM. Tại đây, B và T gặp Nguyễn Thanh Đ, sinh năm: 2002 và nói cho Đ biết việc B và T vừa trộm được gà rồi nhờ Đ chở gà đi tiêu thụ nhưng Đ không đồng ý. T liền nhờ Nguyễn Đức M, sinh ngày 25/8/2001, Cư trú tại: Ấp 2, xã XT, huyện XL, tỉnh Đồng Nai chở gà đi tiêu thụ và nói rõ cho M biết việc B và T vừa trộm được gà thì M đồng ý, M mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 60K3-6416 của anh Nguyễn Vũ Hoàng K chở B, T đến lấy 02 bao gà, trên đường mang đi tiêu thụ thì bị Công an xã XĐ phát hiện bắt giữ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 60/KL-HĐĐG ngày 31/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Mỹ, kết luận:
- 13 (mười ba) con gà trống, loại gà ta, tổng trọng lượng 17,7kg có giá trị là: 95.000 đồng/kg x 17,7kg = 1.681.500 đồng.
- 08 (tám) con gà mái, tổng trọng lượng 9,8kg có giá trị là: 100.000 đồng/kg x 9,8kg = 980.000 đồng.
- 02 (hai) con gà trống, loại gà giống với gà đông tảo, tổng trọng lượng 2,95kg có giá trị là: 170.000 đồng/kg x 2,95kg = 501.500 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 3.163.000 (ba triệu một trăm sáu mươi ba nghìn) đồng.
Tại Cáo trạng số: 12/CT-VKS-CM ngày 24 tháng 01 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố Trần Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn B về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng như bản Cáo trạng đã nêu đồng thời đề nghị;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt: Bị cáo Trần Văn B mức án từ 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả, bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội. Bị cáo khai nhận, khoảng 20 giờ ngày 20/10/2017 bị cáo cùng Phạm Ngọc T mang theo 02 bao tải đi đến nhà anh Phạm Ngọc T lén lút vào chuồng gà bắt trộm 23 con gà. Tổng giá trị tài sản là 3.163.000 (ba triệu một trăm sáu mươi ba nghìn) đồng. Lời khai nhận của bị cáo trùng khớp lời khai ban đầu, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng chứng cứ khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án.
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn B đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và Điều 7, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi cho người phạm tội.
Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn B tuy ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.
Xuất phát từ động cơ tư lợi, bị cáo Trần Văn B đã chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình, nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân, bị cáo đã thực hiện trót lọt tội phạm. Vì vậy, mức án bị cáo nhận lãnh phải nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Văn B trong giai đoạn điều tra đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ đã ra Quyết định truy nã số: 02/CQĐT-ĐTTH ngày 10/01/2018, Trần Văn B đã bị bắt theo quyết định truy nã ngày 22/11/2018. Tại thời điểm bị bắt, do bị cáo đã bị tai nạn giao thông phải điều trị tại Bệnh viện nên gia đình bị cáo đã làm thủ tục bảo lãnh cho bị cáo được tại ngoại để điều trị thương tích (gãy xương hàm mặt) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ đã ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 01/CQĐT-ĐTTH ngày 22/11/2018 đối với Trần Văn B.
Hành vi bỏ trốn của bị cáo Trần Văn B đã gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành người tốt giúp ít cho xã hội.
Đối với phần trình bày và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.
Đối với phần trình bày của bị cáo B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, bị hại anh T vắng mặt. Tài sản bị thiệt hại đã thỏa thuận bồi thường xong, anh T không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với anh Nguyễn Vũ Hoàng K là chủ phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 60K3-6416 đã cho Nguyễn Đức M mượn xe, anh K hoàn toàn không biết việc bị cáo sử dụng xe chở tài sản trộm cắp mà có nên không phạm tội. Riêng đối với yêu cầu của anh K xin nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 60K3-6416. Xét thấy, xe mô tô biển số 60K3-6416 hiện chưa rõ nguồn gốc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với Phạm Ngọc T có hành vi cùng B “Trộm cắp tài sản”, Nguyễn Đức M có hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” hiện đã bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ đã ra Quyết định truy nã, khi nào bắt được xử lý sau.
Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đảm bảo, phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng Hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ.
Biện pháp tư pháp:
Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo B chiếm đoạt của bị hại đã được thu hồi và hoàn trả lại cho chủ sở hữu (BL: 24). Về thiệt hại, đã được thỏa thuận bồi thường xong, bị hại anh T không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 60K3-6416, màu xanh đen, số máy LC152FMH*0015099*, số khung NJ110200000093 hiện chưa rõ nguồn gốc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ tiếp tục tạm giữ, xác minh làm rõ xử lý sau.
Về án phí:
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1- Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn B 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 01/3/2019.
Bắt tạm giam bị cáo Trần Văn B ngay sau khi tuyên án để bảo đảm thi hành án.
2- Về án phí: Bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - Công an huyện Cẩm Mỹ; - VKSND huyện Cẩm Mỹ; - TAND tỉnh Đồng Nai; - STP tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THADS H.Cẩm Mỹ; - THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Tấn Cảnh |