vanban.org

Bản án 06/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 25/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn C phạm tội: "Vận chuyển hàng cấm".

Phạt bị cáo Lương Văn C 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 25 tháng 4 năm 2019. Giao bị cáo Lương Văn C cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn C vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn C phạm tội: "Vận chuyển hàng cấm".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIA
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HS-ST
Ngày 25-4-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khởi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Thắng.

Bà Phạm Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Đức Long, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lương Vĩnh Nguyên, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Gia xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2019/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Lương Văn C, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1982 tại tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm V, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Minh C1, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960, vợ là Đàm Thị T, sinh năm 1980 (đã chết) và 02 người con. Con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không có; về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2019 đến ngày 04/3/2019 được tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Chu Thị S, sinh năm 1972, địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện P, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 50 phút ngày 08/01/2019, bị cáo Lương Văn C, sinh năm 1982, trú tại Xóm V, xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1-277.07 theo tỉnh lộ 226 hướng H – B trên xe chở 10 hộp pháo dạng 36 lỗ, tổng trọng lượng là 15 kg, mục đích đem về nhà để đốt trong dịp tết nguyên đán Kỷ Hợi 2019, khi đi đến thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn thì bị Công an huyện Bình Gia phát hiện bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số: 48/KL-PC09 ngày 10/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Mẫu vật gửi giám định đều có chứa thuốc pháo, khi đốt các vật đều phát ra tiếng nổ.

Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKS-BG ngày 20/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia truy tố Lương Văn C ra trước Toà án nhân dân huyện Bình Gia để xét xử bị cáo về tội: "Vận chuyển hàng cấm" theo khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Đối với đối tượng bán pháo nổ cho Lương Văn C, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được, nên không xem xét trong vụ án này.

Vật chứng thu được gồm: 10 hộp pháo pháo dạng 36 lỗ, sau khi giám định, ngày 27/02/2019 Cơ quan điều tra đã tiến hành tiêu hủy, chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97B1-277.07, ngày 15/3/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia đã ra quyết định xử lý vật chứng và đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Chu Thị S, sinh năm 1972, trú tại thôn K, xã H, huyện P, tỉnh Cao Bằng.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn C phạm tội Vận chuyển hàng cấm, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, các Điều 50, 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lương Văn C từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định, buộc bị cáo phải chịu án phí và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo vì không có tài sản và thuộc diện hộ nghèo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định tại các Điều 111, 113 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Đầu tháng 01/2019, trong khi đang làm thuê bốc vác hàng tại cửa khẩu T, huyện P, tỉnh Cao Bằng, thấy việc mua pháo nổ dễ dàng, nên Lương Văn C nảy sinh ý định mua pháo về quê đốt trong dịp tết nguyên đán Kỷ Hợi 2019. Khoảng 14 giờ ngày 08/01/2019 Lương Văn C đến khu vực bến Phia Khoang thuộc thị trấn T thuộc địa bàn giáp ranh với phía Trung Quốc, gặp và hỏi mua pháo với một người đàn ông không quen biết và hẹn 17 giờ cùng ngày sẽ đem bán cho Lương Văn C, đúng gì hẹn Lương Văn C đến điểm hẹn thuộc thị trấn T mua được 10 hộp pháo loại 36 lỗ với giá 900.000đồng rồi mang về phòng trọ, sau đó Lương Văn C cho 5 hộp vào chiếc bao tải, 5 hộp cho vào chiếc ba lô có quai sách rồi buộc tất cả lên xe mô tô HONDAWave RSX, biển kiểm soát 97B1-227.07 mượn của bà Chu Thị S, sinh năm 1972, trú tại thôn K, xã H, huyện P, tỉnh Cao Bằng, rồi vận chuyển số pháo trên đem về nhà để sử dụng, trên đường về đến thôn K, xã M, huyện B thì bị tổ công tác công an huyện Bình Gia phát hiện, bắt quả tang, qua kiểm tra có tổng trọng lượng pháo là 15 kg, kết quả giám định xác định đều là pháo nổ.

Qua xét hỏi và tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, không kêu oan và không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên.

Về yếu tố cấu thành tội phạm: Hành vi vận chuyển pháo nổ của bị cáo là 15 kg, trên mức khởi điểm về định lượng để xử lý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ mặt hàng này đã bị Nhà nước cấm sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ sử, dụng để bảo đảm an ninh trật tự, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, số lượng pháo thu được là 15 kg, từ các chứng cứ đã thu thập được và được thẩm tra công khai tại phiên toà cho thấy: Hành vi của Lương Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Do vậy Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lương Văn C theo quy định tại khoản 1 Điều 191 là có cơ sở.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tình tiết tăng nặng, không có. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, chưa bị xử phạt hành chính lần nào, chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương.

Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi 2 con nhỏ, vợ chết năm 2011. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP-TANDTC ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, quy định về điều kiện cho hưởng án treo thì bị cáo có đủ điều kiện, nên xử phạt tù ở mức trên mức khởi điểm của khung hình phạt nhưng cho hưởng án treo là phù hợp, việc cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương cũng đủ tính răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân chấp hành đúng pháp luật và không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sống phụ thuộc gia đình, thuộc diện hộ nghèo, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định.

Về vật chứng: Số lượng pháo thu được, sau khi giám định, ngày 27/02/2019 đã được Cơ quan điều tra thành lập Hội đồng tiêu hủy đúng quy định, chiếc xe mô tô, ngày 15/3/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia đã trả cho chủ sở hữu là bà Chu Thị Sâm, nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí, buộc bị cáo Lương Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định là 200.000đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên cơ bản có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử cần được chấp nhận trong phần quyết định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i và s khoản 1 Điều 51, Điều 50, các khoản 1 và 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn C phạm tội: "Vận chuyển hàng cấm".

- Phạt bị cáo Lương Văn C 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 25 tháng 4 năm 2019. Giao bị cáo Lương Văn C cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo này.

Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Lương Văn C.

2. Về án phí: Buộc bị cáo Lương Văn C phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo có mặt, được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Chu Thị S vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú./.

Cỡ chữ