vanban.org

Bản án 06/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Lê Tuấn A được ly hôn chị Đỗ Thị Út C.

Về con chung: Giao cháu Lê Anh T – sinh ngày 12-5-2017 cho chị Đỗ Thị Út C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu tài đủ 18 tuổi. Anh Lê Tuấn A không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Lê Tuấn A được ly hôn chị Đỗ Thị Út C.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HNGĐ-ST
Ngày 17-9-2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Đinh Văn Tư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Huyên và ông Trần Văn Tài.

- Thư ký phiên tòa:Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/TLST-HNGĐ ngày 02-7-2019 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/8/2019 và Thông báo mở lại phiên tòa số 05/2019/TB-TA ngày 05/9/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:Anh Lê Tuấn A; Sinh năm: 1972; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường S, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

2. Bị đơn: Chị Đỗ Thị Út C; sinh năm: 1997; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường S, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh Lê Tuấn A trình bày: Anh và chị Đỗ Thị Út C kết hôn với nhau vào ngày 21/9/2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã được hai bên gia đình và UBND phường Sông Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau được 01 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình cách sống hai bên không hợp nhau, chị C không quan tâm lo lắng cho gia đình, hay nghi kỵ ghen tuông, từ đó cuộc sống vợ chồng thường xuyên bất hòa, bắt đầu từ tháng 9/2018 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Hiện anh A xác định không còn tình cảm với chị C nữa nên yêu cầu Tòa án cho anh được ly hôn chị Đỗ Thị Út C. Về con chung, quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Lê Anh T – sinh ngày 12-5-2017, hiện đang sống với chị C, do cháu còn nhỏ nên anh A nhường quyền nuôi con cho chị Đỗ Thị Út C cònviệc cấp dưỡng nuôi con chung anh A sẽ tự nguyện. Về tài sản chung và nợ chung anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Đỗ Thị Út C trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử hôm nay đều không hợp tác, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Nhưng chị C đã có đơn xin ly hôn anh Lê Tuấn A, xin được nuôi con chung mà không yêu cầu anh A cấp dưỡng, không yêu cầu giải quyết về tài sản và xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành rất nhiều biện pháp để đề nghị chị C phối hợp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp tuy nhiên không có kết quả. Vì vậy Tòa án không tiền hành làm việc để lấy lời khai cũng như hòa giải giữa vợ chồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa hai lần, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Về tình cảm: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho anh Lê Tuấn A được ly hôn chị Đỗ Thị Út C. Về con chung: Đề nghị căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Lê Anh T, sinh ngày 12/5/2017 cho chị Đỗ Thị Út C trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận ý kiến của chị Đỗ Thị Út Cvề không yêu cầu anh Lê Tuấn A phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét. Về án phí: Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh Lê Tuấn A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Chị Đỗ Thị Út C được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Bị đơn chị Đỗ Thị Út Cvắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Anh Lê Tuấn A và chị Đỗ Thị Út C kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường S, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Anh Lê Tuấn A cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do chị C không quan tâm lo lắng cho gia đình, hay nghi kỵ, ghen tuông chồng dẫn đến vợ chồng thường xuyên bất hòa. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án chị C không hợp tác, không có mặt theo giấy triệu tập cũng như các lần hòa giải của Tòa án nhưng chị C cũng đã có đơn yêu cầu được ly hôn anh A và yều cầu giải quyết vắng mặt chị. Qua xác minh của Tòa án tại tổ dân phố nơi anh A và chị C cư trú và Ủy ban nhân dân phường S thì anh A, chị C mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn tình cảm với nhau. Hội đồng xét xử thấy rằng anh A, chị C đã sống ly thân từ tháng 9/2018 mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Lê Tuấn A được ly hôn chị Đỗ Thị Út C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Anh T sinh ngày: 12/5/2017. Anh Lê Tuấn A tuy có yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng xét thấy cháu Lê Anh T hiện nay đang sống với mẹ và cháu chưa đủ 36 tháng tuổi, cuộc sống sinh hoạt đã ổn định không nên gây xáo trộn làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý của cháu. Hơn nữa chị C hiện có công việc thu nhập tạm ổn định đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì vậy căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Lê Anh T cho chị Đỗ Thị Út C trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận ý kiến tự nguyện của chị Đỗ Thị Út C về không yêu cầu anh Lê Tuấn A phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Tuấn A không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Lê Tuấn Alà nguyên đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình nên phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 3 Điều 81; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Lê Tuấn A được ly hôn chị Đỗ Thị Út C.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Anh T – sinh ngày 12-5-2017 cho chị Đỗ Thị Út C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu tài đủ 18 tuổi. Anh Lê Tuấn A không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Anh Lê Tuấn A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng)án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0007032 ngày 26/6/2019 của Chi cục thi hành án thị xã Kỳ Anh, tiền án phí anh A đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn anh Lê Tuấn A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn chị Đỗ Thị Út Ccó quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ