vanban.org

Bản án 06/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị T M được ly hôn với anh Vũ Đức H .

Về con chung: Giao con chung Vũ Anh T, sinh ngày 17-9-2014 cho chị Trương Thị T M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị M tự giải quyết với anh H nên Tòa án không xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, ngư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Trương Thị T M và anh Vũ Đức H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị T M được ly hôn với anh Vũ Đức H .
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/HNGĐ-ST
Ngày 27-03-2019
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tâm

Ông Nguyễn Văn Quyết

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 333/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị T M; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 1, xã TL, huyện VB , thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn G, xã HH, huyện VB , thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Đức H; nơi cư trú: Thôn 1, xã TL, huyện VB , thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Trương Thị T M trình bày: Chị và anh Vũ Đức H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện VB, Hải Phòng vào ngày 16-4-2014. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận đến tháng 3/2016 thì phát sinh mâu thuẫn, do anh H chơi bời, nghiện ma túy, không quan tâm đến gia đình. Chị đã khuyên bảo nhưng anh không thay đổi nên chị đã đưa con về gia đình ở xã HH sinh sống. Cuối năm 2016 anh H đã tìm chị về đoàn tụ nhưng do anh không chịu lao động nên chị lại bỏ về gia đình chị sinh sống. Từ đầu năm 2017 đến nay, anh chị sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị M xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H .

Về con chung: Chị và anh Vũ Đức H có 01 con chung là Vũ Anh T , sinh ngày 17-9-2014, hiện đang ở với chị. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị hiện làm công nhân thu nhập ổn định hàng tháng, việc cấp dưỡng nuôi con, chị xin tự giải quyết với anh H .

Về tài sản: Chị và anh Vũ Đức H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai và các văn bản tố tụng khác, bị đơn Vũ Đức H xác nhận điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị M trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận được thời gian đầu và có một con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm năm 2017 do chị M tự ý bỏ đi khỏi nhà anh, anh đã tìm chị về nhiều lần nhưng chị không về. Từ tháng 6/2018 đến nay, anh chị sống ly thân mỗi người ở một nơi. Nay chị M xin ly hôn, anh không đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Trương Thị T M có 01 con chung là Vũ Anh T, sinh ngày 17-9-2014. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, anh hiện làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, việc cấp dưỡng nuôi con anh xin tự giải quyết với chị M .

Về tài sản: Anh và chị Trương Thị T M không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ, việc xét xử vắng mặt bị đơn và các hoạt động tố tụng khác. Nguyên đơn đã chấp hành yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án như việc giao nộp chứng cứ, tham gia phiên họp, phiên hòa giải theo quy định của pháp luật. Bị đơn không nộp bản tự khai, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, việc bị đơn vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Trương Thị T M được ly hôn với anh Vũ Đức H. Về con chung: Giao con chung Vũ Anh T, sinh ngày 17-9-2014 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết nên không đặt ra để giải quyết. Về tài sản: Chị M và anh H xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Anh Vũ Đức H có hộ khẩu thường trú tại thôn 1, xã TL, huyện VB , thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn giữa chị Trương Thị Thị M và anh Vũ Đức H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Bị đơn anh Vũ Đức H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, tuy nhiên anh H vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Vũ Đức H .

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị T M và anh Vũ Đức H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TL, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 16-4-2014. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu và có một con chung, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2016 do do anh H chơi bời không quan tâm đến gia đình. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị M đã nhiều lần đưa con về gia đình ở xã HH, huyện VB, thành phố Hải Phòng sinh sống. Từ năm 2017 đến nay, anh chị sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị M nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H . Quá trình giải quyết vụ án, anh H không đồng ý ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M và anh H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu của chị Trương Thị T M xin ly hôn với anh Vũ Đức H phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận.

Về con chung: Chị Trương Thị M và anh Vũ Đức H có 01 con chung là Vũ Anh T , sinh ngày 17-9-2014. Khi ly hôn, anh H và chị M cùng đề nghị Tòa án giao con chung cho anh, chị trực tiếp nuôi dưỡng. Xét yêu cầu, đề nghị giải quyết việc nuôi con của anh chị, Hội đồng xét xử nhận định: Chị M làm công nhân có thu nhập ổn định hàng tháng, anh H àm nghề tự do, thu nhập không ổn định, mặt khác con chung Vũ Anh T, sinh ngày 17-9-2014 còn nhỏ tuổi. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con cần chấp nhận yêu cầu của chị M , giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị M xin tự giải quyết với anh H nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản: Chị Trương Thị T M và anh Vũ Đức H xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, chị Trương Thị T M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 146, khoản 4 Điều 147, khoản 2, Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị T M được ly hôn với anh Vũ Đức H .

2. Về con chung: Giao con chung Vũ Anh T, sinh ngày 17-9-2014 cho chị Trương Thị T M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị M tự giải quyết với anh H nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Chị Trương Thị T M và anh Vũ Đức H không có tài sản chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trương Thị T M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị M đã nộp tạm ứng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001265 ngày 17-12-2018. Chị Trương Thị T M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ