- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh châp xin ly hôn "Về quan hệ hôn nhân: Bà V yêu cầu ly hôn với ông T; Về con chung: Bà V yêu cầu được quyền nuôi con chung Nguyễn Thị K…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2019/HNGĐ-ST Ngày: 26-3-2019 V/v Tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Lâm Tới;
Bà Huỳnh Thị Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới - thư ký Tòa án nhân dân huyện
Tịnh Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên
tòa: Nèang Sa Men – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 340/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2018 về việc "Xin ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị V, sinh năm 1989, cư trú: số 059, ấp L2, xã
T, quận T, Thành phố C, có mặt;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984, cư trú: ấp T, xã T, huyện
T, tỉnh A, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ghi ngày 23 tháng 11 năm 2018 và các lời khai trong
quá trình giải quyết tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Trịnh Thị V trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn
theo giấy chứng nhận, ngày 18 tháng 05 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T. Sau khi cưới vợ chồng sống tại xã T, từ năm 2012 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T chơi cờ bạc, đá gà, đánh bài....và thường xuyên đánh đập bà. Đến năm 2015 do không thể tiếp tục chung sống, nên bà đã cùng con về nhà tại xã T, quận T sống đến nay. Do đó, bà V yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: Có 01 (một) con chung là Nguyễn Thị Kiều M, sinh ngày 05 tháng 01 năm 2011. Hiện tại do bà V nuôi dưỡng, bà yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
- Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Văn T đều vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
- Ý kiến trình bày của cháu Nguyễn Thị Kiều M: Nếu cha mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ Trịnh Thị V.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đúng các nghĩa vụ theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông T có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy về tình cảm giữa bà V và ông T không còn hạnh phúc, cả hai bỏ mặt không còn quan tâm, thể hiện từ năm 2015 thì bà V và ông T không còn sống chung với nhau. Như vậy, thấy rằng cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được.
Về con chung: có một con chung là cháu Nguyễn Thị Kiều M, sinh ngày 05 tháng 01 năm 2011. Từ sau khi bà V và ông T không còn chung sống với nhau, con chung đều do bà V nuôi dưỡng. Mặc khác, để đảm bảo điều kiện sinh hoạt, không làm thay đổi cuộc sống và phù hợp với nguyện vọng của cháu Nhi, cần tiếp tục giao con chung cho bà V nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng bà V không yêu cầu, nên không xem xét.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 và Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của bà Trịnh Thị V.
Tại phiên tòa hôm nay, ông T vắng mặt. Nguyên đơn bà Trịnh Thị V vẫn giữ nguyên yêu cầu và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên
triệu tập hợp lệ có mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Văn T có đăng ký hộ
khẩu thường trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh A. Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Bà V và ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn
theo giấy chứng nhận, ngày 18 tháng 05 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lợi, huyện Tịnh Biên theo đúng quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000, nên đây là hôn nhân hợp pháp theo pháp luật. Xét thấy về tình cảm bà V và ông T không còn hạnh phúc, từ năm 2015 cả hai bỏ mặt không còn quan tâm, chung sống với nhau, theo kết quả xác minh ngày 26 tháng 02 năm 2019 tại ấp T, xã T xác định “...từ năm 2017 không thấy bà V sống chung khu tập thể, mà thấy ông T sống một mình”. Như vậy, thấy rằng cuộc sống hôn nhân giữa bà V và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử thấy rằng bà Trịnh Thị V xin ly hôn là có căn cứ.
Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Thị Kiều M, sinh ngày 05
tháng 01 năm 2011. Xét về yêu cầu thấy rằng, từ sau khi không còn chung sống, con chung đều do bà V nuôi dưỡng, đến nay cháu My đã đủ 7 tuổi và có nguyện vọng được sống với mẹ, nên khi xem xét giao con chung cũng xem xét đến nguyện vọng của con. Do đó, cần giao con chung cho bà V nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng và phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà V không yêu cầu, nên không xem xét.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Bà Trịnh Thị V khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí
dân sự hôn nhân sơ thẩm theo mức không giá ngạch. Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị V xin ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trịnh Thị V và ông Nguyễn Văn T.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung Nguyễn Thị Kiều M, sinh ngày 05 tháng 01 năm 2011 cho bà Trịnh Thị V trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Trịnh Thị V cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Văn T quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trịnh Thị V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2016/0014438 ngày 17 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên. Bà V đã nộp xong.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
T hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự. * Nơi nhận:
| - Các đương sư; - VKSND h.Tịnh Biên; - Chi cục THADS h.TB; - Tòa án nhân dân tỉnh; - UBND xã Tân Lợi; - Lưu HS & VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Ngọc Mỹ |