- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn H và N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Ngô Văn H1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2019/HNGĐ - ST Ngày: 08/3/2019 V/v: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Khôi
Ông Nguyễn Xuân Quốc
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Phú - Thẩm tra viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2019/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2019 “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1995 (có mặt).
Địa chỉ: Khu III, thị trấn CG, huyện CG, tỉnh H1 Dương.
Bị đơn: Anh Ngô Văn H1, sinh năm 1992 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn TB, xã QP, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án, chị Đỗ Thị H và anh Ngô Văn H1 thống nhất trình bày: Chị H và anh H1 kết hôn vào ngày 01/6/2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã QP, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.Việc đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi đăng ký kết hôn hai bên gia đình đã tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau ngày cưới anh chị về chung sống với nhau ngay.
Mâu thuẫn vợ cH theo chị H trình bày: Ngay sau khi về chung số một thời gian, do bất đồng quan điểm sống, tính tình vợ cH không hòa hợp nên tình cảm vợ cH lạnh nhạt. Mâu thuẫn vợ cH đã được hai bên gia đình tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Do vậy, từ tháng 5/2018 chị H bỏ về nhà đẻ sống, vợ cH sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ. Chị H xác định mâu thuẫn giữa chị và anh H1 đã trầm trọng, tình cảm vợ cH không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị xin ly hôn với anh H1.
Mâu thuẫn vợ cH theo anh H1 trình bày: Do bất đồng về quan điểm sống dẫn đến tình cảm vợ cH lạnh nhạt, sau đó do anh đi làm ăn xa nên ở nhà lại xảy ra việc chị H mâu thuẫn với mẹ anh nên tình cảm vợ cH cµng lạnh nhạt. Nay chị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý.
Về con chung: Chị H và anh H1 đều xác định có 01 con chung là cháu Ngô Văn Quốc Anh, sinh ngày 26/02/2016, từ khi sống ly thân đến nay cháu Quốc Anh vẫn được chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị H và anh H1 đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quốc Anh và không yêu cầu bên kia pH1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Hai đương sự cùng xác định không có gì và không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 235 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Ngô Văn H1.
- Về con chung: Giao con chung là Ngô Văn Quốc Anh, sinh ngày 26/02/2016 cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con chưa đặt ra đối với anh Ngô Văn H1. Anh Ngô Văn H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị H pH1 chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Qua xem xét Hội đồng xét xử xét thấy, chị Đỗ Thị H và anh Ngô Văn H1 kết hôn vào ngày 01/6/2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã QP, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, trên cơ sở tự nguyện và theo luật định. Mâu thuẫn vợ cH giữa chị H và anh H1 là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên chị H mang con về nhà bố mẹ đẻ sống ly thân với anh H1 từ tháng 5/2018, từ đó đến nay vợ cH chấm dứt mọi quan hệ. Sự việc trên đã được hai bên gia đình hòa giải để vợ cH quay về đoàn tụ nhưng không thành. Quá trình giải quyết vụ án cả chị H và anh H1 đều xác định vợ cH sống ly thân đã lâu nên tình cảm vợ cH không còn. Do vậy cần xác định mâu thuẫn vợ cH giữa chị H và anh H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, chị Đỗ Thị H và anh Ngô Văn H1 cùng thống nhất thuận tình ly hôn. Do vậy cần công nhận sự thuận tình ly hôn của hai bên đương sự là phù hợp.
Về con chung: Chị H và anh H1 đều xác định có 01 con chung là cháu Ngô Văn Quốc Anh, sinh ngày 26/02/2016, hiện nay cháu Quốc Anh đang do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Do chị H và anh H1 đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên việc giao con chung cho chị H hay anh H1 nuôi dưỡng thì cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu Quốc Anh. Xét về điều kiện nuôi dưỡng con chung của cả anh H1 và chị H thì hiện đều chưa có nhà đất riêng mà vẫn đang ở cùng bố mẹ, cả hai đều làm nghề tự do, anh H1 khai mức thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng, chị H Khai mức thu nhập khoảng 6 triệu đồng/tháng, nhưng cả hai anh chị đều không cung cấp cho Tòa án các chứng cứ chứng minh cho thu nhập của mình. Tuy nhiên xét thấy từ khi chị H và anh H1 sống ly thân, cháu Quốc Anh đã được chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, về sức khỏe và việc giáo dục cháu vẫn được đảm bảo, mặt khác cháu Quốc Anh mới được 36 tháng 10 ngày tuổi nên vẫn cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ. Để tránh xáo trộn cuộc sống sinh hoạt cũng như ảnh hưởng đến tâm lý của cháu Quốc Anh, HĐXX nhận thấy cần giao cháu Ngô Văn Quốc Anh cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản: Các đương sự xác định không có gì và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị H pH1 chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 147, 235, 264, 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Ngô Văn H1.
2. Về con chung: Giao con chung là Ngô Văn Quốc Anh, sinh ngày 26/02/2016 cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con chưa đặt ra đối với anh Ngô Văn H1. Anh Ngô Văn H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở
3. Về án phí: Chị Đỗ Thị H pH1 chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số: AA/2017/0001217 ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Tài. Chị Đỗ Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. HTND
HTND
ThÈm Ph¸n - CHñ to¹ phiªn toµ Phạm Minh Khôi
Nguyễn Xuân Quốc
L ¬ng Minh Ph ¬ng
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lương Tài; - Chi cục huyện Lương Tài; - Đương sự; - UBND xã QP; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Minh Phƣơng |