- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Lành Văn V - Bị đơn Lộc Thị K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lành Văn V được ly hôn với chị Lộc Thị K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2019/HNGĐ-ST Ngày 05-6-2019 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lô Thị Thoạn
Bà Triệu Thanh Thủy
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Huyền- Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Phương Thị Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2019 tại Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2019/TLST - HNGĐ, ngày 07 tháng 3 năm 2019 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2019/QĐST-HNGĐ ngày 20/5/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn Anh Lành Văn V, sinh năm 1989; cư trú tại: Khu P, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
Bị đơn: Chị Lộc Thị K, sinh năm 1990; cư trú tại: Khu P, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2019 và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Lành Văn V trình bày:
Anh Lành Văn V và chị Lộc Thị K quen biết nhau từ đầu năm 2010, thông qua bạn bè, sau một thời gian tìm hiểu đến tháng 4 năm 2010 thì tiến tới hôn nhân, việc kết hôn giữa hai người là trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương sau đó đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn L, huyện B, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 13/4/2010. Sau thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi cọ, bất đồng quan điểm, chị Lộc Thị K bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ cuối năm 2010, anh Lành Văn V đã nhiều lần nhờ hai bên gia đình khuyên nhủ và động viên chị Lộc Thị K quay lại chung sống nhưng chị Lộc Thị K không nhất trí, và vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay. Anh Lành Văn V xác định tình cảm vợ chồng không còn nên viết đơn đến Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xin ly hôn với chị Lộc Thị K.
Về con chung, tài sản chung và các khoản nợ chung không có.
Quá trình giải quyết vụ án chị Lộc Thị K không hợp tác giải quyết vụ việc.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như sau: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án như xác định đúng thẩm quyền, đúng tư cách các đương sự, đúng quan hệ pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa và các nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là chị Lộc Thị K không chấp hành đúng theo quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cùng tài liệu chứng cứ được công khai tại phiên tòa thấy: Về quan hệ hôn nhân: Xác định vợ chồng anh Lành Văn V và chị Lộc Thị K có mâu thuẫn trầm trọng, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, tình cảm vợ chồng giữa anh chị thực sự đã hết do vậy yêu cầu xin ly hôn anh Lành Văn V là có căn cứ; về con chung và tài sản chung: không có; về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quyền khởi kiện: Anh Lành Văn V và chị Lộc Thị K quen biết nhau, sau một thời gian tìm hiểu, hai bên tự nguyện tiến tới hôn nhân và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán tại địa phương và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Thời điểm anh Lành Văn V xin ly hôn, chị Lộc Thị K vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Khu P, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, anh Lành Văn V có quyền yêu cầu ly hôn chị Lộc Thị K là đúng theo quy định tại Điều 51 của Luật Hôn nhân gia đình và Điều 186 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của chị Lộc Thị K: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ và gọi điện cho chị Lộc Thị K theo số điện thoại của nguyên đơn cung cấp nhiều lần nhưng chị Lộc Thị K không hợp tác để giải quyết vụ án. Tại biên bản xác minh ngày 14 tháng 3 năm 2019 thì chị Lộc Thị K vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại địa chỉ: Khu P, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, do vậy Tòa án cùng Công an thị trấn L, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã lập biên bản không tống đạt được văn bản tố tụng được cho chị Lộc Thị K theo quy định tại khoản 5, Điều 177 đồng thời tiến hành niêm yết công khai văn bản cần tống đạt theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của xin ly hôn: Theo như lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy anh Lành Văn V và chị Lộc Thị K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc hay bị lừa dối được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán. Đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay anh Lành Văn V xác định tình cảm không còn nữa. Hội đồng xét xử nhận thấy anh Lành Văn V và chị Lộc Thị K, sau khi kết hôn với nhau từ năm 2010 chỉ sống với nhau được thời gian ngàn thì ly thân, thời gian ly thân giữa hai người đến nay đã gần được 9 năm. Hội đồng xét xử nhận thấy anh Lành Văn V và chị Lộc Thị K không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, tình cảm vợ chồng giữa anh chị thực sự đã hết do vậy yêu cầu xin ly hôn của anh Lành Văn V là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung và các khoản nợ chung: không có do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án thì anh Lành Văn V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước. Ngày 07 tháng 3 năm 2019, anh Lành Văn V đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2012/05546 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn.
Về quyền kháng cáo: Anh Lành Văn V được có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Lộc Thị K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lành Văn V được ly hôn với chị Lộc Thị K.
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.
3. Về án phí: Anh Lành Văn V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Xác nhận anh Lành Văn V đã nộp 300.000 đồng tiền án phí (theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2012/05546 ngày 07 tháng 3 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn).
4. Về quyền kháng cáo: Anh Lành Văn V được có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Lộc Thị K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Lộc Bình; - Chi cục THADS huyện B; - UBND thị trấn L; - Các đương sự............; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Bình |