- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Văn H - Phạm Minh T"
- Tòa quyết gì? Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc anh Lê Văn H phải nộp 300.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2019/HNGĐ-ST Ngày: 31-01-2019 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Giao.
Ông Trần Hà Bắc.
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuất – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 233/2018/TLST-HNGĐ ngày 27/12/2018 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/01/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
Bị đơn: Chị Phạm Minh T, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn B, huyện C, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
Người làm chứng: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1952; địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn B, huyện C, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn anh Lê Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Minh T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, đã được UBND thị trấn B, huyện C, tỉnh Nam Định cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 31/10/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách, lối sống không hợp, không thống nhất với nhau trong việc làm ăn. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2007 cho đến nay. Nay anh xác định không còn tình cảm với chị T, hôn nhân không có hạnh phúc nên nguyện vọng của anh xin được ly hôn với chị T.
Về việc nuôi con: Vợ chồng chưa có con chung.
Về tài sản: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là chị Phạm Minh T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị T nhưng chị T không trực tiếp trình bày quan điểm và không chấp hành việc triệu tập của Tòa án.
Người làm chứng ông Phạm Văn T trình bày: Ông là bố đẻ là chị Phạm Minh T. Theo ông, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh H, chị T xuất phát từ việc làm ăn kinh tế. Hai vợ chồng chị T, anh H đã sống ly thân từ khoảng đầu năm 2017 trở lại đây. Ông đã chuyển và thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án về việc ly hôn giữa anh H và chị T cho chị T biết, chị T đồng ý ly hôn nhưng do hiện tại anh đang ở xa, công việc rất bận rộn nên không thể sắp xếp về Tòa án để làm việc được.
Kết quả xác minh tại thị trấn B thấy: Các đương sự, người làm chứng trình bày là đúng.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nguyên đơn có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Đề nghị Hội đồng xét xử cho ly hôn giữa anh Lê Văn H và chị Phạm Minh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn anh Lê Văn H có đơn đề nghị xử vắng mặt, bị đơn chị Phạm Minh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên có căn cứ và đủ điều kiện xét xử vắng mặt cả hai đương sự như quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn H và chị Phạm Minh T kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng giữa anh H và chị T không có hạnh phúc do tính cách không hợp, hai bên không có giải pháp hòa giải đoàn tụ và đã sống ly thân trong một khoảng thời gian dài. Anh H xin ly hôn, chị T nhất trí nhưng không tới Tòa án tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lê Văn H đối với chị Phạm Minh T, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
Về con chung, tài sản: Các đương sự không có con chung và không yêu cầu về tài sản nên không xem xét điều chỉnh.
Về án phí: Anh Lê Văn H là nguyên đơn, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự thì anh H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử cho ly hôn giữa anh Lê Văn H và chị Phạm Minh T.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc anh Lê Văn H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000303 ngày 27/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy; anh Lê Văn H đã nộp đủ án phí ly hôn.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh: 01 bản; - VKSND Tỉnh + Huyện: 02 bản; - Chi cục THADS Huyện: 01 bản; - UBND thị trấn B: 01 bản; - Các đương sự: 02 bản; - Lưu hồ sơ: 02 bản; - Lưu văn phòng. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Duyên |