- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Lan - Lộ Văn Hộ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L, chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Lộ Văn H
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2019/HNGĐ-ST Ngày: 25-3-2019 V/v: Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung , |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quốc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Ánh Sửu.
2. Bà H’Uyên A Yun.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 3 năm 2019 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 371/2018/TLST - HNGĐ, ngày 19 tháng 12 năm 2018, về việc kiện “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn 4, xã E, huyện E, Đắk Lắk; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Lộ Văn H, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Thôn 4, xã E, huyện E, Đắk Lắk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình làm việc nguyên đơn chị Hoàng Thị Lan trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Lộ Văn H chung sống với nhau từ năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Hai người chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện có qua thời gian tìm hiểu. Trong quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách của hai người khác nhau, không còn chung quan điểm và cách sống, anh H có tính ghen tuông nên vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Hiện nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh Lộ Văn H được nữa nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lộ Văn H.
Về nuôi con chung: Chị Hoàng Thị L và anh Lộ Văn H có 03 con chung: Lộ Hoàng Đình B, sinh ngày 08/12/2008, Lộ Hoàng Gia N, sinh ngày 16/01/2015, Lộ Hoàng Đăng K, sinh ngày 12/7/2017. Nay ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục ba cháu cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị L không yêu cầu anh Lộ văn Hộ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lộ Văn H: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ anh H nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do và nguyên đơn chị Hoàng Thị L có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 và khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo áp dụng thủ tục niêm yết công khai đối với anh Lộ Văn H theo đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị L và anh Lộ Văn H chung sống với nhau từ năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk theo GCNKH số 03, quyển số 01, ngày 14/01/2007. Hiện nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với anh Hộ được nữa nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hộ và Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Bị đơn anh Lộ Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung: Chị Hoàng Thị L và anh Lộ Văn H chung sống với nhau từ năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk. Hai người chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện có qua thời gian tìm hiểu. Trong quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách của hai người khác nhau, không còn chung quan điểm và cách sống, anh H có tính ghen tuông nên vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Nay nhận thấy chị L và anh H không còn yêu thương, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại, nếu tiếp tục chung sống cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai người. Vì vậy, cần cho chị L và anh H được ly hôn, để giải phóng sự ràng buộc giữa hai người.
Về nuôi con chung: Chị Hoàng Thị L và anh Lộ Văn H có 03 con chung: Lộ Hoàng Đình B, sinh ngày 08/12/2008, Lộ Hoàng Gia N, sinh ngày 16/01/2015, Lộ Hoàng Đăng K, sinh ngày 12/7/2017. Nay ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục ba cháu cho đến khi đủ 18 tuổi.
Xét thấy, hiện tại ba cháu Lộ Hoàng Đình B, Lộ Hoàng Gia N và Lộ Hoàng Đăng K đang sống với chị L, cháu Lộ Hoàng Đình B cũng có nguyện vọng được sống với chị L. Vì vậy, cần giao cháu Lộ Hoàng Đình B, sinh ngày 08/12/2008, Lộ Hoàng Gia N, sinh ngày 16/01/2015, Lộ Hoàng Đăng K, sinh ngày 12/7/2017 cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại chị Hoàng Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập xem xét.
Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét.
Về án phí dân sự: Chị Hoàng Thị L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 4 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L, chị Hoàng Thị L được ly hôn với anh Lộ Văn H
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lộ Hoàng Đình B, sinh ngày 08/12/2008, Lộ Hoàng Gia N, sinh ngày 16/01/2015, Lộ Hoàng Đăng K, sinh ngày 12/7/2017 cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
Anh Lộ Văn H có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
4.Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị Hoàng Thị L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai số: AA/2017/0008971, ngày 18/12/2018.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hoàng Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Lộ Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - Viện KSND huyện Ea H’leo; - Chi cục THADS huyện Ea H’leo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Bùi Quốc Hà |