vanban.org

Bản án 06/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 28/06/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình sơ thẩm"
  • Căn cứ chính? Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n n s : 06 /2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 28-6-2019.
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: à Lê Thị Hồng Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hòa.

Ông Đinh Thanh H i

- Thư ký phiên tòa: à Trần Thị Thanh Thúy - Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Đỗ Thị Thu Thủy-Kiểm s t viên tham gia phiên tòa.

Ngày 28 th ng 6 năm 2019, tại Hội trường Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ n thụ lý s 14/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2019 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ n ra xét xử s 05/2019/QĐXX-ST ngày 19 th ng 6 năm 2019, giữa c c đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đặng Văn T - sinh năm 1978 (có mặt)

Cư trú tại: Xóm C, xã N, huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên.

2. ị đơn: Chị Từ Thị Th, sinh năm 1976.

Nơi đăng ký HKTT: Xóm C, xã N, huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên.

Hiện nay đang cư trú tại Malaysia. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, b n tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Đặng Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Th chung s ng với nhau từ năm 1993 và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, do không hiểu biết ph p luật nên anh và chị Th không đăng ký kết hôn. Anh T và chị Th chung s ng với nhau như vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, không ai ép buộc, lừa d i ai tại xóm C, xã N, huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên. Thời gian đầu anh và chị Th chung s ng hòa thuận, hạnh phúc, do hoàn c nh khó khăn nên anh chị th ng nhất cho chị Th đi xuất khẩu lao động để trang tr i cuộc s ng. Tháng 8 năm 2014 chị Th sang nước Malaysia làm việc. Thời gian đầu chị Th sang chị vẫn thường xuyên liên lạc và gửi tiền về cho gia đình. Nhưng từ th ng 10 năm 2016 thì chị Th không liên lạc về nhà và không gửi tiền cho anh nữa. Từ đó hai giữa anh và chị Th phát sinh mâu thuẫn. Về địa chỉ hiện nay (ở nước ngoài) của chị Th anh x c định chị Th không cho anh biết và c gia đình nhà chị Th đều không biết nên anh không có địa chỉ cụ thể của chị Th ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa n. Đến nay anh x c định tình c m giữa anh và chị Th không còn nên anh đề nghị Tòa n gi i quyết cho anh được ly hôn với chị Th.

Về con chung: Trong thời gian chung s ng anh và chị Th có 02 con chung, ch u lớn là Đặng Văn T1, sinh ngày 08/7/1996 và ch u nhỏ là Đặng Thị M, sinh ngày 14/12/2000. Hiện nay đang ở cùng anh tại Xóm C, xã N, huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên. C c con của anh và chị Th đã trưởng thành, không có con nào bị nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.

Về tài s n chung, nợ chung: Không có

Tại iên b n làm việc của Tòa n ngày 26/4/2019 (lần 1) Toà n đã yêu cầu à Đỗ Thị S - đại diện thân nhân (mẹ đẻ) của chị Từ Thị Th cung cấp địa chỉ cụ thể của chị Th ở nước ngoài cho Tòa án nhưng bà S x c định chị Th hiện đang ở nước ngoài (Malaysia) và thỉnh tho ng có gọi điện về cho gia đình bà nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của chị Th để cung cấp cho Tòa n. Tại biên b n làm việc (lần 2) của Toà n, Bà S cũng vẫn x c định chị Th đang ở nước ngoài (Malaysia) bà không biết địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của chị Th. Bà S trình bày: Sau khi nhận c c văn b n của Toà án bà có thông tin cho chị Th biết về việc anh T chồng chị Th có đơn xin ly hôn với chị Th, chị Th có thông tin lại với bà và x c định chị và anh T không đăng ký kết hôn nhưng anh chị đã chung s ng với nhau từ năm 1993, chị và anh T có mâu thuẫn trầm trọng, chị không còn tình c m với anh T. Nay anh T xin ly hôn chị cũng nhất trí, đề nghị Tòa n gi i quyết theo quy định của ph p luật.

Về con chung, vợ chồng có 02 con như anh T đã trình bày là đúng. Hiện hai con đã trưởng thành, chị đang ở nước ngoài nên hai con vẫn đang s ng cùng anh T. Về tài s n chung, nợ chung: không có, không đề nghị xem xét gi i quyết.

Hiện chị Th đang ở nước ngoài, đã hết hợp đồng lao động, s ng lưu vong không thể về nước để gi i quyết vụ n được. Tại phiên tòa, anh Đặng Văn T cũng x c định: Thời hạn hợp đồng lao động làm việc tại Malaysia của chị Từ Thị T là 03 năm, đến nay chị Th đã hết hợp đồng lao động, anh không có thông tin gì, đề nghị Tòa n xét xử vắng mặt chị Th và gi i quyết vụ n theo quy định của ph p luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Th i Nguyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo ph p luật t tụng trong qu trình gi i quyết vụ n của Thẩm ph n, Hội đồng xét xử: Tuân thủ đúng c c quy định của ph p luật; việc chấp hành ph p luật của những người tham gia t tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị n: Nguyên đơn chấp hành đúng c c quy định của ph p luật t tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của ph p luật t tụng dân sự. Về đường l i gi i quyết vụ n, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Đặng Văn T và chị Từ Thị Th. Về con chung: Đã trưởng thành; Tài s n chung và nợ chung không gi i quyết. Anh T ph i chịu n phí theo quy định của ph p luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu c c tài liệu có trong hồ sơ vụ n, sau khi nghe ý kiến ph t biểu của đại diện Viện kiểm s t, Hội đồng xét xử nhận định:

Về t tụng: Đây là vụ n ly hôn thuộc thẩm quyền gi i quyết của Tòa n được quy định tại kho n 1 Điều 28 ộ luật t tụng Dân sự. Tại Công văn s 2002/PA01(XNC) ngày 05/4/2019 của Công an tỉnh Th i Nguyên về việc cung cấp thông tin xuất nhập c nh của công dân Việt Nam - Chị Từ Thị Th đã xuất c nh qua cửa khẩu Nội ài ngày 29/8/2014, hiện nay chưa có thông tin nhập c nh trở lại. Do vậy, Hội đồng xét xử x c định, đây là vụ n có yếu t nước ngoài thuộc thẩm quyền gi i quyết của Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên theo quy định tại Điều 37 và Điều 39 của ộ luật t tụng dân sự.

Nguyên đơn anh Đặng Văn T là người Việt Nam ở trong nước và bị đơn chị Từ Thị Th là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng anh T chỉ cung cấp được địa chỉ cư trú cu i cùng ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ của chị Th ở nước ngoài. Qu trình gi i quyết vụ n, thông qua đại diện thân nhân của chị Th là bà S có đủ căn cứ x c định chị Th vẫn liên hệ với bà và gia đình bà nhưng bà không cung cấp địa chỉ của chị Th đang ở nước ngoài và chị Th cũng không có lời khai bằng văn b n gửi về cho Toà n. Toà n đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bà S cũng vẫn không cung cấp địa chỉ của chị Th ở nước ngoài. Do vậy, căn cứ công văn s 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà n nhân dân T i Cao hướng dẫn về việc gi i quyết vụ n ly hôn có bị đơn người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong vụ n này, theo thông tin từ thân nhân của chị Th hiện nay chị Th đã hết hợp đồng lao động và đang s ng lưu vong tại nước Malaysia, bị đơn và thân nhân của bị đơn c tình giấu địa chỉ của bị đơn, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định .

Về nội dung: Tại phiên tòa anh Đặng Văn T x c định anh và chị Từ Thị Th chung s ng với nhau từ năm 1993, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Đến nay tình c m giữa anh và chị Từ Thị Th không còn. Đề nghị Tòa n gi i quyết cho anh và chị Th được ly hôn.

Phía bị đơn chị Th mặc dù không có lời khai bằng văn b n gửi về Tòa n nhưng thông qua đại diện thân nhân ở trong nước, chị cũng x c định chị và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, chị không còn tình c m với anh T, về việc anh T xin ly hôn chị nhất trí.

Hội đồng xét xử thấy: Anh Đặng Văn T và chị Từ Thị Th chung s ng với nhau như vợ chồng từ năm 1993, không đăng ký kết hôn theo quy định của ph p luật. Tại kho n 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và kho n 3 Nghị quyết s 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 quy định, thì việc anh Đặng Văn T và chị Từ Thị Th chung s ng với nhau như vợ chồng từ năm 1993 mà không có đăng ký kết hôn đều không được ph p luật công nhận là vợ chồng.

Về con chung: Anh T và chị Từ Thị Th có 02 con chung là Đặng Văn T1, sinh ngày 08/7/1996 và Đặng Thị M, sinh ngày 14/12/2000. Hiện c hai con đang ở cùng anh T tại Xóm C, xã N, huyện Đ, tỉnh Th i Nguyên. Hội đồng xét xử thấy rằng: Hai con chung của anh T và chị Từ Thị Th đã trưởng thành và không có con nào bị nhược điểm về thể chất và tâm thần nên không gi i quyết về việc nuôi con và cấp dưỡng.

Tài s n chung, nợ chung của vợ chồng: Anh T x c định không có, phía chị Th vắng mặt và không có lời khai bằng văn b n nên Hội đồng xét xử chưa gi i quyết về tài s n chung, nợ chung.

Án phí: Anh T ph i chịu 300.000đ n phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của ph p luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Th i Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.

Bởi các lẽ trên,

QuyÕt ®Þnh:

Căn cứ c c Điều 28, Điều 37, kho n 2 Điều 38, Điều 39 và Điều 147 của ộ luật t tụng dân sự; Điều 9, kho n 1, Điều 14, kho n 2 Điều 53 và Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Đặng Văn T và chị Từ Thị Th là vợ chồng .

2. Về con chung: Đều đã trưởng thành.

3. Tài s n chung, nợ chung: Chưa gi i quyết.

4. Án phí: Anh Đặng Văn T ph i chịu 300.000đ ( a trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước được trừ vào s tiền 300.000đ tạm ứng n phí đã nộp s 0008767 ngày 18/4/2019 tại Cục Thi hành n dân sự tỉnh Th i Nguyên.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt anh Đặng Văn T b o cho biết có quyền kh ng c o trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên n. Chị Từ Thị Th vắng mặt có quyền kh ng c o b n n trong thời hạn một th ng kể từ ngày nhận được b n n hoặc được niêm yết/.

Cỡ chữ