- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn: Lương Thị Kim H; bị đơn: Nguyễn Sơn T"
- Tòa quyết gì? tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015; Nghị
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 06/2019/HNGĐ-ST Ngày: 25/04/2019 |
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP - Với
thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Nước Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Chí 2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thảo - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trãi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Ngày 25 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 08/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Chị Lương Thị Kim H, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. - Bị đơn: Anh Nguyễn Sơn T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Canada. Có mặt chị Kim H; vắng mặt anh Nguyễn Sơn T (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Lương Thị Kim H trình bày: - Về hôn nhân: chị Lương Thị Kim H và anh Nguyễn Sơn T qua quen biết tìm hiểu và tổ chức lễ cưới năm 2012, đăng ký kết hôn ngày 18/6/2012 tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Tuy nhiên trong quá trình sống chung với nhau chị và anh T ngày càng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống do anh T là người Hà Nội, chị là người Miền Tây, tính tình hai bên không
hợp nhau nên mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, không thể hàn gắn được. Nay chị Lương Thị Kim H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Kim H yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Sơn T. - Về con chung: Không có; - Về tài sản chung: Không có; - Về nợ chung: Không có. Bị đơn anh Nguyễn Sơn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có văn bản ghi ý kiến trình bày: Anh và chị Kim H quen nhau và đăng ký kết hôn ngày 18/6/2012 tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Hôn nhân giữa anh chị được gia đình hai bên chấp thuận. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống, giữa hai bên xảy ra nhiều mâu thuẫn, do tính tình anh chị không hợp và sự khác biệt về quan điểm. Nhiều lần anh đã cố gắn hòa hợp, chia sẽ quan điểm sống với nhau nhưng không đạt kết quả mà ngày càng xa cách. Kể từ năm 2016 đến nay thì anh và chị Kim H không còn sống chung với nhau nữa. Nay anh nhận thấy tình cảm vợi chồng giữa anh và chị Kim H không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị Kim H. - Về con chung: Không có; - Về tài sản chung: Không có; - Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của chị Kim H, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Chị Lương Thị Kim H và anh Nguyễn Sơn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 148, ngày 18/6/2012, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xem là hôn nhân hợp pháp. [2] Chị Lương Thị Kim H là người có quốc tịch Việt Nam, yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Sơn T là người có quốc tịch Canađa, theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 470 của Bộ Luật tố tụng dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì yêu cầu của chị Kim H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam; Căn cứ quy định tại Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì vụ án ly hôn này được áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết.
Anh Nguyễn Sơn T có đơn xin xét xử vắng mặt có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Canađa được xem là hợp lệ. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Sơn T là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. [4] Xét yêu cầu của chị Lương Thị Kim H xin được ly hôn với anh Nguyễn Sơn T, Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Nguyễn Sơn T có văn bản đồng ý ly hôn với chị Lương Thị Kim H. Do đó, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chấp nhận cho ly hôn giữa chị Lương Thị Kim H với anh Nguyễn Sơn T. [5] Về con chung, tài sản chung, nợ chung không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [6] Về án phí sơ thẩm: Chị Lương Thị Kim H tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nên chấp nhận. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 228, Điểm d Khoản 1 Điều 469, Điểm b Khoản 1 Điều 470 Bộ Luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: - Chấp nhận cho ly hôn giữa chị Lương Thị Kim H với anh Nguyễn Sơn T. - Về án phí: Chị Lương Thị Kim H tự nguyện nộp 300.000 đồng án phí dân sự về hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị Kim H đã nộp theo biên lai số 0000412 ngày 04/01/2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Nguyên đơn chị Lương Thị Kim H được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn anh Nguyễn Sơn T được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: - VKSND Tỉnh ĐT; - Cục THADS Tỉnh; - Phòng KTNV-THA TA Tỉnh; - Các đương sự; - UBND tỉnh Đồng Tháp; - Lưu: HSVA, VT (Trãi). Đã ký | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Hồng Nước |