- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi việc nuôi con"
- Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH KHÁNH HÒA ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2019/HNGĐ-ST Ngày 15 tháng 5 năm 2019 V/v: Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Quốc Tân
ông Nguyễn Thành
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Phương Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện D - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D - Khánh Hòa tham gia phiên
tòa: ông Trần Quốc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D - tỉnh Khánh
Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số
454/2018/TLST-HNGĐ ngày 25/12/2018 về việc “Yêu cầu thay đổi người trực
tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 07/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thanh Kim Y - sinh năm 1995
Trú tại: thôn V - xã V - tp. N - Khánh Hòa.
Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: anh Võ Văn H - sinh năm 1985
Trú tại: thôn P4 - xã A - huyện D - Khánh Hòa.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 18/12/2018 và bản tự khai ngày 17/01/2019 tại
Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thanh Kim Y trình bày: năm 2015, chị và anh Võ
Văn H ly hôn theo quyết định của Tòa án. Khi ly hôn, do chưa có việc làm và nơi ở
ổn định để nuôi con chung Võ Thành B (sinh ngày 16/8/2012) nên chị đã đồng ý
để anh H là người trực tiếp nuôi con chung và chị không cấp dưỡng nuôi con. Quá
trình trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh H đã không làm tròn trách nhiệm của người cha, thường xuyên đánh con. Anh H và gia đình anh H cản trở không cho chị thăm con. Anh H không có việc làm ổn định, thường xuyên cho con nghỉ học để đi chơi bất kỳ khi nào, anh H còn không đóng học phí cho con nên nhà trường đã cho con nghỉ học 1 tuần. Đến nay, chị xác định đã có điều kiện để có thể nuôi con chung nên chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng cho đến khi con chung trưởng thành.
Bản tự khai ngày 21/01/2019, bị đơn anh Võ Văn H trình bày: từ khi anh và
chị Y ly hôn, chị Y không có trách nhiệm với con, chưa bao giờ chị Y thăm con. Anh thường xuyên đi làm nên phải nhờ ông bà nội, cô, dượng đưa đón. Chị Y đã có người khác, trong khi anh vẫn chưa có gia đình riêng. Anh chỉ cho con nghỉ học khi con bệnh đau hay gia đình có việc đột xuất. Nay chị Y đề nghị thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con, anh không đồng ý.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Y thay đổi yêu cầu khởi kiện: yêu cầu thay
đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D - Khánh Hòa phát biểu ý kiến về
việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự trong vụ án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y về việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị Y cho rằng anh H không đảm bảo về mọi mặt khi là người trực tiếp
nuôi dưỡng con chung. Anh H không thừa nhận việc này mà cho rằng anh nuôi con đầy đủ về mọi mặt. Do anh phải đi làm nên việc đưa đón con đi học phải nhờ cậy người thân trong gia đình nên việc chị Y cho rằng anh nuôi con không đảm bảo là không có cơ sở. Tại phiên tòa hôm nay, anh H xác định trong quá trình trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh còn thiếu sót trong việc quan tâm, chăm sóc con nhưng anh vẫn không đồng ý để chị Y là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
[2] Qua xác minh tại Trường tiểu học A2 - nơi cháu Võ Thành B (sinh ngày
16/8/2012) là con chung của chị Y, anh H đang học lớp 1B thì được biết “Tình hình học tập của cháu B ở học kỳ I là học sinh trung bình. Các khoản đóng góp để phục vụ nhu cầu học tập của cháu B không được gia đình quan tâm, tiền học phí môn Anh văn chưa đóng. Cháu B đi học không đều, giáo viên chủ nhiệm thường xuyên đến nhà vận động gia đình cho cháu đi học. Các buổi họp phụ huynh học sinh thì không có ai tham gia”. Điều này chứng tỏ, anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng anh H chưa quan tâm đến việc học tập và sinh hoạt hàng ngày của con. Việc này sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển tâm sinh lý của cháu B sau
này. Vì vậy, cần thiết phải thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung để quyền
lợi của cháu được quan tâm một cách đúng mực.
[4] Về án phí: anh H nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thanh Kim Y
về việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Giao con chung Võ Thành B (sinh ngày 16/8/2012) cho chị Y trực tiếp trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18
tuổi). Chị Y không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, chị Y, anh H
đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi
con chung.
Quy định chung: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy
định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người
phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
2. Về án phí: anh Võ Văn H nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn
nhân và gia đình sơ thẩm.
Hoàn trả cho chị Nguyễn Thanh Kim Y số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và
gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền
tạm ứng án phí số AA/2016/0002426 ngày 25/12/2018 của Chi cục thi hành án dân
sự huyện D - Khánh H.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án
mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc
được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh H; - VKSND huyện D; - Chi cục thi hành án dân sự huyện D; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |