vanban.org

Bản án 06/2019/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật dân sự năm 2015;

phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay Cam - Trang"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 129 Bộ luật Dân sự; Điều 131 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SÔNG CẦU
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/DSST
Ngày 21/02/2019
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Long và ông Bùi Trọng Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy An – Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã

Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên tham

gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Dương – Kiểm sát viên.

Vào ngày 21 tháng 02 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Sông

Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:

134/2018/TLST–DS ngày 14 tháng 11 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXXST-DS ngày

08 tháng 01 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2019/QĐST-DS ngày

25 tháng 01 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Võ Thị C, sinh năm 1980 và Trần Quốc T, sinh năm 1974;

địa chỉ: Khu phố AT, phường XĐ, thị xã SC, tỉnh Phú Yên. Người đại diện theo

ủy quyền: Ông Trịnh Bình T, sinh năm 1979; địa chỉ: 247 NH, phường 5, thành

phố TH, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Bị đơn:

+ Lê Thị Kim Tr, sinh năm 1969 và Nguyễn Chí D, sinh năm 1967; địa

chỉ: Khu phố TT, phường XĐ, thị xã SC, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

+ Nguyễn Thị Diễm Ch, sinh năm 1988; địa chỉ: Khu phố TT, phường

XĐ, thị xã SC, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Nguyễn Quốc C1, sinh năm 1994; địa chỉ: Khu phố TT, phường XĐ, thị

xã SC, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Trần Ngọc Th, sinh năm 1976 và Đặng Thị U, sinh

năm 1980; địa chỉ: Khu phố TT, phường XĐ, thị xã SC, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 09/11/2018, biên bản lấy lời khai ngày

28/12/2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn là vợ chồng Võ Thị C, Trần Quốc T do người đại diện theo ủy quyền là ông Trịnh Bình Tấn trình bày được tóm tắt như sau:

Ngày 18/02/2017, vợ chồng Võ Thị C, Trần Quốc T có cho vợ chồng Lê

Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D vay số tiền 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng), không có lãi, vợ chồng Tr, D có thế chấp cho vợ chồng C, T một đìa nuôi trồng thủy sản với diện tích 4.269m2. Việc vay tiền và thế chấp có lập giấy viết tay của vợ chồng Tr, D ký nhưng không có công chứng, chứng thực.

Ngày 08/11/2017, vợ chồng C, T tiếp tục cho vợ chồng Tr, D vay số tiền

400.000.000đ, hẹn đến ngày 20/02/2018 âm lịch (nhằm ngày 05/4/2018 dương lịch) sẽ trả. Sau đó, vợ chồng Tr, D tiếp tục vay thêm số tiền 200.000.000đ và hai bên thống nhất viết gộp vào số tiền 400.000.000đ đã mượn ngày 08/11/2017 thành số tiền 600.000.000đ, lãi suất thỏa thuận 6%/tháng, thời hạn vay từ ngày 14/7/2018 đến ngày 14/10/2018, hợp đồng vay này được lập thành văn bản có chữ ký của vợ chồng Tr, D và được chứng thực số 27, quyển số 01 SCC/CK ngày 14/7/2018 tại Văn phòng công chứng Sông Cầu.

Để đảm bảo khoản nợ vay trên, gia đình bà Tr gồm: Nguyễn Chí D, Lê Thị

Kim Tr, Nguyễn Thị Diễm Ch, Nguyễn Quốc C1 có thế chấp cho vợ chồng Tr, D tài sản là: Diện tích 4.269m2 đất đìa nuôi trồng thủy sản thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ 20 tọa lạc tại khu phố TT, phường XĐ, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên đã được UBND thị xã Sông Cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 137470 ngày 30/10/2006 cho hộ Nguyễn Chí D, Lê Thị Kim Tr.

Sau khi vợ chồng Tr, D vay tiền đã quá thời hạn nhưng không trả gốc, lãi

theo thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:

+ Buộc vợ chồng Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D cùng với các con là

Nguyễn Thị Diễm Ch, Nguyễn Quốc C1 phải trả số tiền gốc 1.200.000.000đ và tiền lãi theo quy định pháp luật.

+ Đề nghị giải quyết tài sản thế chấp theo quy định pháp luật.

* Tại đơn xin trình bày ngày 15/12/2018 và đơn xin xét xử vắng mặt ngày

15/12/2018, bị đơn là vợ chồng bà Lê Thị Kim Tr và ông Nguyễn Chí D trình bày được tóm tắt như sau:

Thừa nhận có vay số tiền 600.000.000đ và 400.000.000đ, tổng cộng vay

của nguyên đơn số tiền 1.000.000.000đ (một tỷ đồng). Trong đó, số tiền vay 600.000.000đ có thế chấp đất đìa; số tiền vay 400.000.000đ, thêm tiền lãi 200.000.000đ, lãi suất 6%/tháng nhưng đến hạn không trả được nợ. Đề nghị Tòa

án giúp đỡ cho vợ chồng Tr, D bán đất đìa thế chấp nêu trên cho vợ chồng Trần

Ngọc Th, Đặng Thị U ở khu phố TT, phường XĐ, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên

để trả nợ cho vợ chồng C, T 900.000.000đ, việc này cả ba gia đình đã thống nhất

với nhau. Đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

* Tại đơn xin trình bày ngày 15/12/2018 và đơn xin vắng mặt xét xử phiên

tòa ngày 15/12/2018, bị đơn là Nguyễn Quốc C1 trình bày được tóm tắt như sau:

Trước đây, ông C1 có ký vào giấy tờ do vợ chồng Lê Thị Kim Tr, Nguyễn

Chí D đưa nhưng không quan tâm đó là giấy tờ gì; bản thân C1 không biết gì đến

việc tiền bạc của vợ chồng Tr, D với vợ chồng Võ Thị C, Trần Quốc T. Đề nghị

Tòa án xét xử vắng mặt.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/11/2018 đơn xin tòa án hòa giải, xét

xử vắng mặt ngày 21/11/2018, bị đơn là Nguyễn Thị Diễm Ch trình bày được tóm

tắt như sau:

Tháng 7/2018, Ch cùng cha mẹ là Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D và em trai

Nguyễn Quốc C1 ra Văn phòng công chứng Sông Cầu ký hợp đồng thế chấp

quyền sử dụng đất (theo giấy CNQSDĐ số AD 137470 ngày 30/10/2006 cho hộ

Nguyễn Chí D, Lê Thị Kim Tr) để vợ chồng Tr, D vay vốn của Võ Thị C, Trần

Quốc T số tiền 600.000.000đ. Món nợ này do vợ chồng Tr, D vay nên tự chịu

trách nhiệm trả nợ. Bản thân Ch không biết vợ chồng Tr, D vay của C, T bao

nhiêu tiền, khi nào và ở đâu, Ch không ký vào giấy tờ nào liên quan đến khoản nợ

này nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc Ch phải có trách nhiệm

trả tiền. Đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng là vợ chồng Trần Ngọc Th, Đặng Thị U trình bày được

tóm tắt như sau:

Trước đây, vợ chồng Trần Ngọc Th, Đặng Thị U có cho vợ chồng Lê Thị

Kim Tr, Nguyễn Chí D vay 700.000.000đ nhưng vợ chồng Tr, D không trả nợ

theo cam kết. Vợ chồng Tr, D có nói với vợ chồng Th, U là vợ chồng Tr, D có

diện tích đất đìa đã thế chấp cho vợ chồng Võ Thị C, Trần Quốc T; nếu vợ

chồng Th, U mua thì giá 1.700.000.000đ, trừ số nợ 700.000.000đ, còn lại trả cho

vợ chồng Tr, D 1.000.000.000đ để trả cho vợ chồng C, T. Tuy nhiên, thỏa thuận

miệng này không thực hiện được vì vợ chồng C, T không chịu và bản thân vợ

chồng Tr, D cũng không thực hiện được việc sang sổ cho vợ chồng Th, U nên

vợ chồng Th, U không đồng ý đưa thêm cho vợ chồng Tr, D 1.000.000.000đ để

mua diện tích đất đìa nêu trên.

Đối với khoản nợ vay 700.000.000đ của vợ chồng Lê Thị Kim Tr,

Nguyễn Chí D thì vợ chồng Th, U đã khởi kiện tại TAND thị xã Sông Cầu và đã

được giải quyết bằng bản án của Tòa án. Do đó, vợ chồng Th, U không liên

quan gì đến việc kiện đòi nợ của vợ chồng Võ Thị C, Trần Quốc T với vợ chồng

Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D. Đề nghị TAND thị xã Sông Cầu giải quyết vắng

mặt.

* Kiểm sát viên phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật của người tiến

hàng tố tụng và tham gia tố tụng; quan điểm đề xuất hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các điều 463, 466, 468, 469, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Võ Thị C, Trần Quốc T đối với Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D, buộc Tr, D phải trả nợ gốc 1.200.000.000đ và lãi theo quy định pháp luật; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Võ Thị C, Trần Quốc T đối với Nguyễn Thị Diễm Ch, Nguyễn Quốc C1; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Võ Thị C, Trần Quốc T đối với việc xử lý tài sản bảo đảm vì hợp đồng thế chấp chưa đăng ký biện pháp bảo đảm theo nên chưa phát sinh hiệu lực theo quy định tại các điều 4,5,6 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra

tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến của nguyên đơn, bị đơn. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp về

hợp đồng vay tài sản được điều chỉnh bởi Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015, là tranh chấp về giao dịch dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thụ lý giải quyết là thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và lãnh thổ về nơi cư trú của bị đơn.

Theo đơn khởi kiện nộp cho Tòa án ngày 09/11/2018, nguyên đơn

khởi kiện đối với vợ chồng Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D và hai con là Nguyễn Thị Diễm Ch và Nguyễn Quốc C1. Khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 28/12/2018, Tòa án xác định Nguyễn Thị Diễm Ch và Nguyễn Quốc C1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là chưa chính xác. Tại phiên tòa, HĐXX căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định tư cách tham gia tố tụng của Nguyễn Thị Diễm Ch và Nguyễn Quốc C1 là bị đơn.

TAND thị xã Sông Cầu đã tiến hành hòa giải, đưa vụ án ra xét xử và

mở phiên tòa lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ các điều 227, 228 của BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện: Bị đơn Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D thừa

nhận vay 600.000.000đ theo hợp đồng vay lần đầu. Đối với hợp đồng vay ngày 14/7/2018 thừa nhận vay gốc 400.000.000đ cộng thêm tiền lãi 200.000.000đ thành 600.000.000đ. Bị đơn Tr, D chỉ thừa nhận vay hai lần với số tiền gốc 1.000.000.000đ nhưng không có chứng cứ chứng minh.

Căn cứ giấy mượn tiền ngày 18/02/2017, giấy mượn tiền không đề

ngày và hẹn trả ngày 20/02/2018 âm lịch, giấy mượn tiền ngày 14/7/2018 phù

hợp với lời trình bày của nguyên đơn, đủ cơ sở xác định:

Ngày 18/02/2017, vợ chồng Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D có vay của

vợ chồng Võ Thị C, Trần Quốc T số tiền 600.000.000đ, lập giấy viết tay, không

ghi nhận thời hạn trả nợ và lãi suất, là hợp đồng vay không kỳ hạn và không có

lãi.

Ngày 14/7/2018, vợ chồng Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D tiếp tục vay

của vợ chồng Võ Thị C, Trần Quốc T số tiền 600.000.000đ (đã gộp khoản tiền

vay 400.000.000đ theo giấy mượn tiền không đề ngày nhưng hẹn ngày trả là

20/02/2018 âm lịch), thỏa thuận lãi suất 6%/tháng, thời hạn trả nợ là ngày

14/10/2018, là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi.

Xét việc thực hiện hợp đồng vay: Đối với Hợp đồng vay không kỳ hạn

và không lãi ngày 18/02/2017: Vợ chồng C, T không chứng minh được thời

điểm yêu cầu bên vay trả nợ nên xác định ngày làm đơn khởi kiện (ngày

09/11/2018) là ngày yêu cầu bên vay trả nợ. Như vậy, kể từ ngày 09/11/2018, vợ

chồng Tr, D không trả nợ là vi phạm nghĩa vụ của bên vay quy định tại Điều

466, khoản 1 Điều 469 BLDS năm 2015 nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi nợ

gốc 600.000.000đ và buộc vợ chồng Tr, D phải trả thêm khoản tiền lãi chậm trả

tiền theo mức lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 4 Điều 466 BLDS năm

2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Cụ thể tiền lãi phải

trả từ ngày 10/11/2018 đến ngày xét xử 21/02/2019 là: 600.000.000đ x

10%/năm x 03 tháng 11 ngày = 16.833.333đ. Tổng cộng tiền gốc và lãi nguyên

đơn khởi kiện buộc vợ chồng Tr, D phải thanh toán được chấp nhận là:

600.000.000đ + 16.833.333đ = 616.833.333đ.

Đối với Hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi ngày 14/7/2018: Khi đến

hạn trả nợ vào ngày 14/10/2018, vợ chồng Tr, D không trả nợ gốc và lãi là vi

phạm nghĩa vụ của bên vay quy định tại Điều 466, khoản 2 Điều 470 BLDS năm

2015 nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc 600.000.000đ và buộc vợ

chồng Tr, D phải trả lãi theo quy định tại khoản 5 Điều 466 BLDS năm 2015.

Cụ thể như sau:

+ Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng

với thời hạn vay từ ngày 14/7/2018 đến ngày 14/10/2018: Lãi suất các bên thỏa

thuận trong hợp đồng 6%/tháng, tương ứng 72%/năm là vượt quá mức lãi suất

giới hạn 20%/năm nên áp dụng khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015 điều chỉnh

lại lãi suất là 20%/năm. Như vậy tiền lãi thỏa thuận trong hợp đồng là:

600.000.000đ x 20%/năm x 03 tháng = 30.000.000đ.

+ Lãi trên nợ lãi chưa trả từ ngày 15/10/2018 đến ngày xét xử sơ

thẩm 21/02/2019 là: 30.000.000đ x 10%/năm x 04 tháng 06 ngày = 1.050.000đ.

+ Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả từ ngày 15/10/2018 đến ngày

21/02/2019 là: (600.000.000đ x 20%/năm x 04 tháng 06 ngày) x 150% = 62.000.000đ.

Tổng cộng tiền gốc và lãi của Hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi ngày

14/7/2018 nguyên đơn khởi kiện buộc vợ chồng Tr, D phải thanh toán được chấp nhận là: 600.000.000đ + 30.000.000đ + 1.050.000đ + 62.000.000đ = 693.050.000đ.

Về trách nhiệm trả nợ vay: Căn cứ vào các hợp đồng vay tài sản thì

bên vay là vợ chồng Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D; việc vay vốn không liên quan đến Nguyễn Thị Diễm Ch, Nguyễn Quốc C1. Do đó, HĐXX chỉ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc vợ chồng Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D trả nợ vay; không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc Nguyễn Thị Diễm Ch, Nguyễn Quốc C1 có trách nhiệm trả nợ vay.

Xét hiệu lực của hợp đồng thế chấp tài sản ngày 20/7/2018 được ký

kết giữa Võ Thị C, Trần Quốc T (bên nhận thế chấp) và Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D, Nguyễn Thị Diễm Ch, Nguyễn Quốc C1 (bên thế chấp): Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nuôi trồng thủy sản có diện tích 4269m2 thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ 20 tọa lạc tại địa chỉ Khu phố TT, phường XĐ, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, được UBND thị xã Sông Cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 137470 ngày 30/10/2006 cho hộ ông Nguyễn Chí D, bà Lê Thị Kim Tr. Tuy nhiên, từ sau khi ký kết hợp đồng thế chấp nêu trên, các bên không tiến hành đăng ký biện pháp bảo đảm và chưa phát sinh hiệu lực theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4, Điều 5, Điều 6 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ, là giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức theo quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, HĐXX không chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn.

Đối với ý kiến của Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D đề nghị Tòa án cho

bán tài sản thế chấp nêu trên cho vợ chồng Trần Ngọc Th, Đặng Thị U để xử lý nợ cho vợ chồng C, T chỉ là ý kiến của Tr, D, không được vợ chồng C, T và vợ chồng Th, U đồng ý thực hiện nên không có căn cứ chấp nhận. Tài sản thế chấp đang giải quyết trong vụ án không liên quan đến vợ chồng Th, U.

Về án phí: Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D phải chịu án phí dân sự sơ

thẩm trên giá trị còn phải thi hành tương ứng số tiền: 36.000.000đ + (509.883.333đ x 3%) = 51.296.500đ. Hoàn trả cho Võ Thị C, Trần Quốc T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.000.000đ có tại biên lai thu tiền số 6692 ngày 14/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

+ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 68, các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

+ Các điều 463, 466, 468, 469, 470 và Điều 357, Điều 129, Điều 131 của

Bộ luật dân sự năm 2015;

+ Các điều 4, 5, 6 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính

phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm;

+ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí

tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Võ Thị C, Trần Quốc T đối với Lê

Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D:

+ Buộc Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D phải thanh toán trả cho Võ Thị C,

Trần Quốc T số tiền còn nợ của Hợp đồng vay không kỳ hạn và không lãi ngày

18/02/2017 bao gồm: Nợ gốc là 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng); nợ lãi là

16.833.333đ (mười sáu triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba

đồng). Tổng cộng 616.833.333đ (sáu trăm mười sáu triệu tám trăm ba mươi ba

nghìn ba trăm ba mươi ba đồng);

+ Buộc Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D phải thanh toán trả cho Võ Thị C,

Trần Quốc T số tiền còn nợ của Hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi ngày

14/7/2018 bao gồm: Nợ gốc là 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng); lãi trong hạn

là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng); lãi trên nợ lãi chưa trả là 1.050.000đ (một

triệu không trăm năm mươi nghìn đồng); lãi quá hạn là 62.000.000đ (sáu mươi

hai triệu đồng). Tổng cộng 693.050.000đ (sáu trăm chín mươi ba triệu không

trăm năm mươi nghìn đồng).

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Võ Thị C, Trần Quốc T đối với

Nguyễn Thị Diễm Ch, Nguyễn Quốc C1.

3. Tuyên bố: Hợp đồng thế chấp bằng giá trị quyền sử dụng đất ký kết

ngày 20/7/2018 giữa Nguyễn Chí D, Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Thị Diễm Ch,

Nguyễn Quốc C1 với Trần Quốc T, Võ Thị C, được Văn phòng Công chứng

Sông Cầu vào sổ công chứng số 938 quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày

20/7/2018 vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức;

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Võ Thị C, Trần Quốc T về việc

xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bằng giá trị quyền sử dụng đất ký

kết ngày 20/7/2018 giữa Nguyễn Chí D, Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Thị Diễm Ch,

Nguyễn Quốc C1 với Trần Quốc T, Võ Thị C, tài sản thế chấp là 4269m2 đất

nuôi trồng thủy sản thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ 20 tọa lạc tại địa chỉ Khu phố

TT, phường XĐ, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Võ Thị C, Trần Quốc T phải

hoàn trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 137470 ngày 30/10/2006

cho hộ ông Nguyễn Chí D, bà Lê Thị Kim Tr.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày người được thi hành án có

đơn thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sư năm 2015.

Về án phí: Lê Thị Kim Tr, Nguyễn Chí D phải nộp 51.296.500đ (năm

mươi mốt triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Võ Thị C, Trần Quốc T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) có tại biên lai thu tiền số 6692 ngày 14/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án sơ thẩm; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ