- Tranh chấp gì? án dân sự — "tranh chấp hợp đồng mua bán giữa Võ Văn Ngh và Hồ Hông Ph"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: - hoản 3,điều 26; Điều 35; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BB TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2019/DSST Ngày: 13-05-2019. V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BB-TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán-Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo
- Các Hội thẩm nhân dân: 1/Bà Xích Thị Bích Nhi
2/Ông Tạ Văn Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chiêm Vân- Thư ký Tòa án nhân dân huyện BB.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BB tham gia phiên tòa: Ông Trần Thông, i m sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện BB, xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án thụ lý số 114/2018/TLST–DS ngày 11 tháng 10 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXX–DSST ngày 01/03/2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử bổ sung số 05/2019/QĐXX–DSST ngày 25/03/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2019/QĐST-DS ngày 03/5/2019 giữa các bên đương sự:
-Nguyên đơn: Ông Võ Văn Ngh, sinh năm 1969 (có mặt)
Địa chỉ: Số nhà A, đường Nguyễn Tất Thành, khu phố Lương N, thị trấn S, huyện BB, tỉnh BTh.
-Bị đơn: Ông Hồ Hồng Ph, sinh năm 1973(vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà B, đường Nguyễn Tất Thành, khu phố Lương T, thị trấn S, huyện BB, BTh
-Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/Bà Trương Thị Ngọc D, sinh năm 1972
Có đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn Ngh, sinh năm 1969 (có mặt)
(văn bản ủy quyền ngày 09/11/2018)
Cùng địa chỉ: Số nhà B đường Nguyễn Tất Thành, khu phố Lương N, thị trấn S, huyện BB, tỉnh BTh.
2/ Bà Đỗ Thị Tường V-sinh năm 1978(vắng mặt)
Địa chỉ:Số nhà A, đường Nguyễn Tất Thành, khu phố Lương T, thị trấn S, huyện BB,tỉnh BTh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình tố tụng tại phiên tòa nguyên đơn ông Võ Văn Ngh trình bày: Từ tháng 11 năm 2015 đến cuối tháng 12 năm 2016 giữa vợ chồng ông Ngh do ông đại diện cùng ông Hồ Hồng Ph có thỏa thuận giao dịch dân sự bằng miệng, theo đó bên ông Ngh có nghĩa vụ cung cấp đá 1x2 và cát xây dựng cho ông Hồ Hồng Ph làm xây dựng các công trình theo yêu cầu của ông Ph, xe chở cát và đá đến giao tại địa đi m của ông Ph chỉ định, hình thức mua bán ký nhận vào sổ theo dõi khi xe chở đến giao và sẽ quyết toán khối lượng và công nợ do hai bên ký xác nhận về khối lượng và giá cả. Ông Võ Văn Ngh đã cung cấp cho bên ông Hồ Hồng Ph đủ số lượng theo yêu cầu và bên ông Ph đã trả tiền cho bên ông Ngh.Tuy nhiên, sau khi quyết toán ông Hồ Hồng Ph còn nợ lại ông Võ Văn Ngh số tiền 137.080.000đ, hẹn trả sau đó không trả. Ông Ngh có đến đòi thì ông Ph đánh nên ông làm đơn ra Công an giải quyết.Ngày 18/5/2017, tại Công an thị trấn S, ông Hồ Hồng Ph thừa nhận còn nợ tiền mua đá, cát xây của ông Ngh 137.080.000đ, hứa trả từng lần, mỗi lần 30.000.000đ cho đến khi trả hết nợ tiền mua đá, cát của ông Ngh nhưng đến ngày 30/5/2017, ông Ph chỉ trả tại Công an thị trấn S 40.000.000đ, còn lại không trả theo thỏa thuận tại Công an.Ông cùng vợ là bà Trương Thị Ngọc D do ông đại diện yêu cầu ông Hồ Hồng Ph cùng vợ là bà Đỗ Thị Tường V phải có trách nhiệm trả nợ tiền mua đá, cát xây của vợ chồng ông chưa thanh toán đủ 97.080.000đ và tính lãi theo qui định của Ngân hàng do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ ngày 30/5/2017 đến ngày ngày xét xử 13/5/2019 theo lãi suất Ngân hàng nhà nước 0.95%/tháng trên số nợ chưa thanh toán đủ.
Bị đơn ông Hồ Hồng Ph trình bày tại hồ sơ vụ án, bản tự khai ngày 22/3/2019 có thừa nhận số nợ mua bán trên và trình bày do hai bên đã thỏa thuận miệng bên ông Ngh cung cấp cát, đá 1x2 cho bên ông Ph làm các công trình giao thông của UBND thị trấn S, vì công trình nhà nước nên việc thanh toán nợ cũng chậm nên hiện nay UBND thị trấn S còn nợ ông Ph tiền công trình nên ông chậm thanh toán nợ cho ông Ngh đến nay chưa thanh toán đủ 97.080.000đ nhưng đề nghị xin chịu trách nhiệm trả tiền nợ mua bán, xin không tính lãi chậm thanh toán, vì lý do ông đang gặp khó khăn trong kinh doanh do UBND thị trấn S chưa quyết toán tiền cho ông và yêu cầu một mình ông Ph tự chịu trách nhiệm trả nợ mua bán này đối với vợ chồng ông Võ Văn Ngh. hông cần đưa vợ ông là bà Đỗ Thị Tường V cùng có trách nhiệm liên đới cùng ông.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị Tường V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thủ tục xác lập tư cách tham gia tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện ki m sát có ý kiến về quan đi m giải vụ án như sau:
+ Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Đã tuân thủ đúng qui định của pháp luật tố tụng về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, xác định tư cách đương sự và thời hạn thủ tục cấp tống đạt.
+Về tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng qui định của bộ luật tố tụng dân sự
+ Về chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng qui định của pháp luật tại Điều 70, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành, vi phạm Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án:Áp dụng khoản 3 Điều 26, đi m a khoản 1 Điều 35;đi m a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;Các Điều 351, 393,430; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27,Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Võ Văn Ngh buộc ông Hồ Hồng Ph cùng vợ là bà Đỗ Thị Tường V phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ mua bán cho vợ chồng ông Võ Văn Ngh và bà Trương Thị Ngọc D số tiền 97.080.000đ và lãi suất theo qui định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, xét ý kiến của các đương sự và ý kiến của i m sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Do ông Hồ Hồng Ph đã được Tòa án triệu tập hòa giải hợp lệ nhiều lần nhưng không đến hòa giải vì vậy vụ án không hòa giải được, đối với bà Đỗ Thị Tường V đã tống đạt họp lệ thông báo xác lập tư cách tham gia tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông báo tham gia phiên tòa nhưng vẫn không có mặt tại phiên tòa nên đưa ra xét xử hôm nay vắng mặt bà Đỗ Thị Tường V và ông Hồ Hồng Ph là đúng qui định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về nội dung:Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn và đại diện của người có quyền lợi liên quan ông Võ Văn Ngh vẫn yêu cầu ông Hồ Hồng Ph cùng bà Đỗ Thị Tường V (vợ ông Ph) có nghĩa vụ thanh toán tiền đá, cát còn nợ 97.080.000đ và tính lãi từ ngày 30/5/2017 đến khi xét xử theo lãi suất do Ngân hàng nhà nước qui định 0.95%/ tháng.Ông Hồ Hồng Ph vắng mặt nhưng thừa nhận nợ tiền mua đá xây dựng của ông Võ Văn Ngh đến cuối năm 2016 là 97.080.000đ(Chín mươi bảy triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) và trình bày lý do không trả được là do các công trình sau khi làm xong UBND thị trấn S còn nợ ông đến nay chưa trả nên ông đang gặp khó khăn chưa có tiền đ thanh toán nợ tiền cát, đá cho ông Võ Văn Ngh và yêu cầu ông Ngh không tính lãi suất vì lí do tiền UBND thị trấn nợ ông và trước khi trao đổi cung cấp cát, đá đã thỏa thuận trước.
Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của ông Võ Văn Ngh và của người đại diện của bà Trương Thị Ngọc D là có căn cứ. Bởi thỏa thuận mua bán cát, đá xây dựng giữa ông Ph với ông Ngh là giao dịch dân sự giữa cá nhân với cá nhân, nội dung và hình thức không qui phạm điều cấm pháp luật và hai bên có năng lực pháp luật dân sự và các bên ông Ph và ông Ngh đã thừa nhận đã thực hiện việc giao nhận vật liệu đá, cát theo yêu cầu của bên mua là ông Hồ Hồng Ph nên ông Hồ Hồng Ph phải có nghĩa vụ chịu trách nhiệm trả nợ mua cát, đá 1x2 cho vợ chồng ông Võ Văn Ngh số tiền 97.080.000đ được qui định tại Điều 116, Điều 117.Điều 119, khoản 6 Điều 275, Điều 357 , Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, ông Hồ Hồng Ph yêu cầu một mình cá nhân ông chịu trách nhiệm trả nợ và ông Ngh, bà D không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy mặt dù ông Ph mua cát, đá của ông Ngh đ xây dựng các công trình nhưng mục đích có thu nhập hợp pháp tạo ra tài sản chung vợ chồng, đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong gia đình nên theo qui định tại Điều 27, Điều 30 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 6 Điều 275 Bộ luật dân sự buộc bà Đỗ Thị Tường V phải có nghĩa vụ chung cùng chồng là ông Hồ Hồng Ph liên đới trả cho ông Võ Văn Ngh và bà Trương Thị Ngọc D nợ tiền mua bán 97.080.000đ(Chín mươi bảy triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).
Đối với yêu cầu lãi suất tình từ ngày 30/5/2017 đến ngày xét xử do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền của nguyên đơn ông Võ Văn Ngh và đại diện của người có quyền lợi liên quan Trương Thị Ngọc D theo lãi suất do ngân hàng nhà nước 0.95%/tháng và đề nghị của bị đơn ông Hồ Hồng Ph xin không tính lãi suất chậm thanh toán vì lý các bên đã thỏa thuận trước và hiện nay do UBND thị trấn S còn nợ tiền công trình mà ông Ngh cung cấp đá nhưng không được ông Võ Văn Ngh chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy hai bên không có căn cứ có cho rằng đã thỏa thuận chấp nhận ông Ph thanh toán tiền đá cho ông Ngh khi UBND thị trấn thanh quyết toán công trình cho ông Ph. Vì vậy, thỏa thuận giao dịch cung cấp đá 1x2 giữa ông Ph với ông Ngh không thỏa thuận về thời hạn giao hàng và thanh toán tiền nên theo qui định tại Điều 440 Bộ luật dân sự thì bên mua phải trả tiền cho bên bán k từ thời đi m giao hàng và nếu chậm thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu lãi suất chậm trả theo qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự nên ông Ngh và bà D yêu cầu ông Ph và bà V phải chịu trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ ngày hòa giải tại Công an thì trấn S 30/5/2017 đến khi xét xử là 23 tháng 13 ngày, thành tiền 21.611.600đ(Hai mươi mốt triệu sáu trăm mười một nghìn sáu trăm đồng) là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của ông Võ Văn Ngh và bà Trương Thị Ngọc D được chấp nhận toàn bộ nên ông Hồ Hồng Ph và bà Đỗ Thị Tường V phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 qui định về mức thu,miễn giảm, nộp,quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - hoản 3 Điều 26, đi m a, khoản 1 Điều 35, đi m a, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Các Điều 116; 117;118, 119; khoản 6 Điều 275, Điều 357, Điều 430, Điều 440 Bộ luật Dân sự.
- Điều 27, Điều 30 và Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 qui định về mức thu,miễn giảm, nộp,quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Xử: - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn Ngh và bà Trương Thị Ngọc D buộc ông Hồ Hồng Ph cùng vợ là bà Đỗ Thị Tường V liên đới trả nợ tiền mua bán cho ông Võ Văn Ngh và bà Trương Thị Ngọc D số tiền 97.080.000đ và lãi phát sinh tính từ ngày 30/5/2017 đến ngày 13/5/2019 là 21.611.600đ
-Về án phí:+Ông Hồ Hồng Ph và bà Đỗ Thị Tường V phải nộp 5.934.600đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
+ Hoàn trả lại ông Võ Văn Ngh tiền tạm ứng án phí 2.796.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0015985 ngày 11/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện BB
- từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì phải chịu thêm khoản tiền lãi theo qui định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự , người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự ; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-Quyền kháng cáo:Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và đại diện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, k từ ngày tuyên án. Bị đơn và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, k từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự
Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa
- VKS BB
- THA BB
- Lưu hồ sơ
Lê Thị Thanh Thảo ................................................................................................................................. Xử(28): .................................................................................................................... .................................................................................................................................
(29) Hướng dẫn sử dụng mẫu số 49: Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Sau đây là những hướng dẫn cụ th về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo: (1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam). (2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/ DTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”). (3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày. (4) Ghi trích yếu quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, đ ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”). (5) Ghi như hướng dẫn tại đi m (1). (6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ và tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ và tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ và tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, họ và tên của Thẩm phán, họ và tên của cả ba Hội thẩm nhân dân; nếu xét xử theo thủ tục rút gọn thì bỏ đoạn “Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có” và chỉ ghi Thẩm phán và họ tên Thẩm phán xét xử (ví dụ: Thẩm phán: Nguyễn Văn A). Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân. (7) Trong trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2016 tại...). Trong trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày trở lên, nếu số ngày tương đối ít thì có th ghi đủ số ngày (ví dụ: Trong các ngày 03, 04 và 05 tháng 3...); nếu số ngày nhiều liền nhau thì ghi từ ngày đến ngày (ví dụ: Trong các ngày từ ngày 07 đến 11 tháng 3 năm ....); nếu khác tháng mà xét xử liên tục thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Trong các ngày từ ngày 28-02 đến ngày 02-3 năm...), nếu không xét xử liên tục thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm...). (8) Nếu xét xử kín thì thay hai chữ “công khai” bằng chữ “kín”. (9) Tùy theo vụ án mà ghi “thông thường” hay “rút gọn”. (10) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “ DTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2016/TLST-HNGĐ). (11) Ghi như hướng dẫn tại đi m (4). (12) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú. Nếu nguyên đơn là người chưa thành niên thì sau họ tên cần ghi thêm ngày, tháng, năm sinh. Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó. (13) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”. Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi). Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...). (14) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ th bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào. (15) và (18) Ghi tương tự như hướng dẫn tại đi m (12). (16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại đi m (13). (17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại đi m (14). (21) và (22) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (23) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và tên của Toà án, nơi Thư ký phiên tòa công tác như hướng dẫn tại đi m (1). (24) Nếu có Viện ki m sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại đi m (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện ki m sát nhân dân”. (25) Ghi quan hệ được xác lập giữa các đương sự dẫn đến có tranh chấp; các vấn đề cụ th mà người khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết; yêu cầu phản tố (nếu có) và đề nghị cụ th của bị đơn; yêu cầu độc lập và đề nghị cụ th của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chú ý không mô tả diễn biến sự việc theo lời trình bày của các đương sự). Ví dụ 1: Trong đơn khởi kiện ngày... tháng... năm... (được bổ sung ngày... tháng... năm..., (nếu có)), nguyên đơn là... trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn là... có giao kết hợp đồng kinh doanh thương mại về vận chuy n hàng hoá. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, nên nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn: (các yêu cầu cụ th ). Tại văn bản phản tố ngày... tháng... năm... (hoặc tại văn bản ngày... tháng... năm..., hoặc tại phiên toà sơ thẩm) bị đơn có yêu cầu, đề nghị Toà án giải quyết (các yêu cầu, đề nghị cụ th ). Tại văn bản ngày... tháng... năm... (hoặc tại phiên toà sơ thẩm) người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là... (nếu có) có yêu cầu độc lập, đề nghị: (các yêu cầu, đề nghị cụ th ). Ví dụ 2: Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày... tháng... năm... (được bổ sung ngày... tháng... năm..., (nếu có)) nguyên đơn là... trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn là... đăng ký kết hôn ngày... tháng... năm... Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không th kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết (các yêu cầu cụ th : ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung...). Tại văn bản ngày... tháng... năm... (hoặc tại phiên toà sơ thẩm) bị đơn là... có yêu cầu, đề nghị Toà án giải quyết (các yêu cầu, đề nghị cụ th ). Tại văn bản ngày... tháng... năm... (hoặc tại phiên toà sơ thẩm) người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là... (nếu có) có yêu cầu độc lập, đề nghị (các yêu cầu, đề nghị cụ th ). (26) Ghi nhận định của Toà án, phải phân tích những căn cứ đ chấp nhận hoặc không chấp nhận từng yêu cầu, đề nghị cụ th của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ý kiến của đại diện Viện ki m sát (nếu có). Cần viện dẫn đi m, khoản và điều luật của văn bản quy phạm pháp luật mà Toà án căn cứ đ chấp nhận hoặc không chấp nhận. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì tùy từng trường hợp cụ th mà Tòa án ghi nhận định áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng. (27) Ghi căn cứ đi m, khoản, điều luật của văn bản quy phạm pháp luật mà Toà án căn cứ đ ra quyết định (ví dụ: căn cứ đi m… khoản…. Điều… Luật đất đai; căn cứ đi m…. khoản…. Điều…. Luật hôn nhân và gia đình,…) (28) Ghi các quyết định của Toà án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy. (29) Phần cuối cùng của bản án, nếu là bản án gốc được thông qua tại phòng nghị án thì cần phải có đầy đủ chữ ký, họ và tên của các thành viên Hội đồng xét xử (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); nếu là bản án chính đ gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện và Viện ki m sát cùng cấp thì cần ghi như sau: Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Ghi những nơi mà Toà án cấp sơ thẩm phải giao
(Ký tên và đóng dấu của Toà án) hoặc gửi bản án theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng dân sự và những nơi cần lưu bản án chính).
(Họ và tên)
Trong đơn khởi kiện ngày 13/05/2016 và các bản tự khai ngày 29/7/2016 và 29/11/2016 nguyên đơn bà Hu nh Thị Thương trình bày: Trong tháng 7 năm 2013 bà Thương có làm thủ hụi cùng rủ những người trong xóm tham gia gồm bà Lê Thị Hường, Long Thị Hiền, Đức Thị Nên,Thông Thị Loan,Hu nh Thị Hà, Trần Thị Lãnh,Hu nh Thị Thương và Hu nh Thị Tiến đều là người cùng thôn tham gia. Trong đó có bà Hu nh Thị Tiến tham gia hai phần hụi trong một dây hụi, mỗi phần hụi 1.000.000đ, sau khi khui hụi đầu tiên bà Tiến ưu tiên hốt được hụi với số tiền 7.000.000đ, lần hai mở hụi bà Tiến hốt hụi được 7.200.000đ. Theo thỏa thuận sau khi hốt hụi k từ lần mở hụi kế theo bà Tiến phải có trách nhiệm góp lại cho bà Thương mỗi phần hụi là 1.000.000đ, hai phần hụi trong một dây hụi nên góp lại 2.000.000đ/1 tháng cho đến khi thành viên cuối cùng lĩnh hụi là 08 tháng. Hình thức chơi hụi có lãi do thành viên trong hụi hưởng, bà Thương hưởng hoa hồng do thành viên lĩnh hụi trả, mức hoa hồng do những người tham gia hụi thỏa thuận. Đồng thời bà có trách nhiệm thu phần hụi của các thành viên góp đ giao cho thành viên được lĩnh hụi. Trong trường hợp nếu có thành viên không góp hụi thì chủ hụi bà Thương phải tự góp cho thành viên khác và yêu cầu người không góp đủ phải trả lại cho chủ hụi bà Thương phần chậm trả và phần thiệt hại. Sau khi hốt hụi xong bà Tiến không nộp lại đúng và đủ số tiền 2.000.000đ/2 phần hụi/1tháng mà chỉ nộp 4 tháng 8.000.000đ và trong năm 2014 bà Tiến nộp 4 đợt tổng cộng 4.000.000đ, còn lại 4.000.000đ bà Tiến không tiếp tục nộp đủ nên bà Thương phải góp đủ cho các thành viên khác trong hụi nhận sau đó bà có đưa ra thôn hòa giải, bà Tiến thừa nhận nợ hụi 4.000.000đ nhưng không trả vì vậy bà khởi kiện ra tòa án yêu cầu bà Hu nh Thị Tiến và chồng bà Tiến là ông Mai Hòa có trách nhiệm trả lại cho bà 4.000.000đ tiền hụi không góp đủ.
Bị đơn bà Hu nh Thị Tiến và ông Mai Hòa không đến Tòa án đ giải quyết và vắng mặt tại các phiên họp ki m tra xem xét chứng cứ hòa giải và đã vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không đưa ra chứng cứ.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Bắc Bình nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Bà Hu nh Thị Tiến và ông Mai Hòa đã được tống đạt hợp lệ thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ lần thứ Hai nhưng đều vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được và Hội đồng xét xử, xử vắng mặt bà Tiến và ông Hòa là phù hợp điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Hu nh Thị Thương vẫn yêu cầu bị đơn bà Hu nh Thị Tiến cùng chồng bà Tiến là ông Mai Hòa phải liên đới có trách nhiệm trả số tiền 4.000.000đ nợ hụi dây hụi tháng 7 năm 2013 cho bà Hu nh Thị Thương. Hội đồng xét xử xét thấy hình thức tham gia hụi giữa bà Hu nh Thị Thương và Hu nh Thị Tiến là hụi có lãi , hụi hưởng hoa hồng, các thành viên tự nguyện tham gia với hình thức tương trợ trong nhân dân và có hưởng lãi theo thỏa thuận tự nguyện, thủ hụi và thành viên tham gia có quyền lợi thì phải có nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ. Đối với thành viên tham gia khi hốt hụi thì phải có nghĩa vụ góp hụi theo k đúng theo thỏa thuận cho những thành viên trong hụi nhận lãi và thủ hụi hưởng hoa hồng do người lãnh hụi phải trả theo thỏa thuận của những người thành viên trong hụi và có trách nhiệm thu tiền của những thành viên trong hụi góp phần hụi đã tham gia giao cho thành viên khác ưu tiên nhận hụi, khi có thành viên trong hụi không góp hụi thì chủ hụi phải tự góp đủ cho thành viên khác trong hụi và được quyền yêu cầu thành viên không góp hụi hoàn trả lại cho chủ hụi phần hụi không góp đủ và bồi thường thiệt hại. Do bà Hu nh Thị Tiến đã hốt hụi đủ nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ góp hụi cho thủ hụi theo thỏa thuận đ giao cho các thành viên khác nên thủ hụi là bà Thương đã chịu trách nhiệm nộp thay phần hụi của bà Tiến do bà Tiến không góp cho thành viên khác. Vì vậy, bà Thương yêu cầu bà Tiến phải có trách nhiệm cùng chồng là ông Mai Hòa trả lại phần hụi không góp đủ và bồi thường thiệt hại với số tiền 4.000.000đ cho bà Hu nh Thị Thương là đúng qui định tại các điều 17; 24,25; 26;28 ; 30; 31 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ qui định về hụi, họ, bêu, phường và khoản 2 điều 37 luật hôn nhân gia đình. Mặc dù khi giao tiền cho các hụi viên bà Thương không cho ký nhận vào sổ nhưng bà tự theo dõi hụi và tại buổi hòa giải của tổ hòa giải thôn Trí Thái ngày 08/6/2015 bà Tiến đã có thừa nhận nợ hụi của bà Thương chưa góp đủ 4.000.000đ có những người trong tổ hòa giải thôn khai gồm ông Nguyễn Huy Hoàng, ông Tạ Văn Định, ông Hu nh Thương, ông Hu nh Thanh Tùng và bà Qua Thị Săng xác nhận là bà Tiến có ký thừa nhận nợ nhưng không đồng ý trả do bà Thương vu khống. Mặc khác, tại tài liệu thu thập chứng cứ do nguyên đơn yêu cầu Tòa án thu thập theo quyết định thu thập chứng cứ số 02 ngày 09/8/2016 bà Hu nh Thị Tiến và ông Mai Hòa có gởi văn bản cho Tòa án có trình bày thừa nhận có tham gia chơi hụi với bà Thương có đóng tiền cho bà Thương nhưng không lâu nghe bà Thương ra ngoài tự vu khống và có cùng bà Thương ra thôn hòa giải nhưng không thành. Như vậy, có đủ căn cứ xác định biên bản hòa giải của thôn ngày 08/6/2016 bà Tiến có tham gia và có ký thừa nhận nợ hụi của bà Thương 4.000.000đ.
Về phía bị đơn bà Hu nh Thị Tiến và chồng bà Tiến là ông Mai Hòa không đến Tòa án theo thông báo của Tòa cũng không đưa ra ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của bà Hu nh Thị Thương nên Hội đồng xét xử xét thấy bà Hu nh Thị Thương yêu cầu bà Hu nh Thị Tiến cùng ông Mai Hòa phải có trách nhiệm trả cho bà Thương tiền hụi không góp đủ 4.000.000đ là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.
Về án phí : Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Hu nh Thị Tiến và ông Mai Hòa phải chịu án phí theo quy định tại Điều 27 pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án ngày 27/02/2009
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: - hoản 3,điều 26; Điều 35; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Các điều 479, khoản 2 điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005.
- hoản 2, điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Các điều 17; điều 24;điều 25;điều 26;điều 28; điều 30 và điều 31 Nghị định 144/ 2006/NĐ – CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ qui định về họ, hụi, biêu, phường.
- Điều 27, Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án ngày 27/02/2009.
Tuyên xử: - Chấp nhận yêu cầu của bà Hu nh Thị Thương buộc bà Hu nh Thị Tiến và ông Mai Hòa phải có trách nhiệm trả cho bà Hu nh Thị Thương 4.000.000đ nợ hụi.
-Về án phí DSST: Bà Hu nh Thị Tiến và ông Mai Hòa phải liên đới nộp 200.000đ tiền án phí DSST.
Hoàn trả lại bà Hu nh Thị Thương 200.000đ tiền tạm ứng án phí DSST theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008926 ngày 20/6/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Bắc Bình.
từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với khoản tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự , người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án , quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6;7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
An xử công khai sơ thẩm, bà Hu nh Thị Thương có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, k từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Hu nh Thị Tiến ông Mai Hòa vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, k từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết hợp lệ. Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán –chủ tọa phiên tòa
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Các đương sự - V S Bắc Bình - THA Bắc Bình - Lưu hồ sơ Hội thẩm nhân dân phiên tòa Phƣợng Hội thẩm nhân dân phiên tòa | V Tấn sinh Thẩm phán – Chủ tọa Lê Thị Thẩm phán – Chủ tọa |