vanban.org

Bản án 06/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện KBang, tỉnh Gia Lai Tuyên án 14/03/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Caên cöù vaøo caùc ñieàu 357, 463, 466, 468 vaø 470 cuûa Boä luaät daân söï năm 2015;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, buộc bị đơn bà Lê Thị C phải trả cho chị T số tiền nợ gốc là 15.000.000 đồng (M lăm triệu đồng). Kể từ ngày chị T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi bà C thi hành xong khoản tiền nợ nói trên thì hàng tháng bà C còn phải chịu khoản … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Caên cöù vaøo caùc ñieàu 357, 463, 466, 468 vaø 470 cuûa Boä luaät daân söï năm 2015;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K-TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/DS-ST.
Ngày: 14/3/2019.
“V/v: Kiện tranh
chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K,TỈNH G

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Cảnh.

2. Ông Phan Đình Toàn.

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện K, tỉnh G.

Ngày 14/3/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 98/2018/TLST-DS ngày 04/12/2018 về việc: “Kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐST-DS ngày 30/01/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, tên gọi khác: T, sinh năm 1976;

Địa chỉ: Tổ dân phố (TDP) 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh G.

- Bị đơn: Bà Lê Thị C, tên gọi khác: Lê Thị M, sinh năm 1971;

Địa chỉ: TDP 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh G.

Chị T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bà C lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị T thì do mối quan hệ quen biết nên vào ngày 17/02/2018 (âm lịch), chị có cho bà Lê Thị C, tên gọi khác là Lê Thị M, trú tại: TDP 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh G vay số tiền là 15.000.000 đồng (M lăm triệu đồng); bà C đã viết và ký giấy mượn tiền, cam kết trong vòng một tháng sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền nợ trên cho chị; giấy mượn tiền được giao lại cho chị giữ và hiện đã được chị nộp cho Tòa án làm chứng cứ.

Tuy nhiên, kể từ khi vay tiền cho đến nay, mặc dù đã quá thời hạn trả nợ nhưng bà C vẫn không chịu trả, mặc dù chị đã nhiều lần trực tiếp gặp đòi. Vì vậy, chị khởi kiện yêu cầu bà C phải trả ngay cho chị số tiền nợ gốc là 15.000.000 đồng, việc bà C đề nghị được trả dần số nợ thì chị không đồng ý.

Về phía bị đơn bà Lê Thị C đã thừa nhận là vào ngày 17/02/2018 âm lịch bà có vay của chị Nguyễn Thị T số tiền là 15.000.000 đồng; bà đã viết giấy mượn tiền và cam kết trong vòng một tháng sẽ hoản trả đủ số tiền nợ trên. Tuy nhiên, do sau khi vay tiền thì kinh tế gia đình bà gặp nhiều khó khăn nên bà đã không trả được nợ đúng hạn. Nay chị T khởi kiện yêu cầu bà trả số tiền nợ 15.000.000 đồng thì bà xin được trả dần mỗi quý ba tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền nợ trên.

Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm: 01 Giấy CMND mang tên Nguyễn Thị T (bản photo), 01 Sổ hộ khẩu đứng tên chủ hộ Nguyễn Thị T (bản photo), 01 Giấy mượn tiền đề ngày 17/02/2018 âm lịch có nội dung bà Lê Thị C (tên gọi khác Lê Thị M) mượn của chị Nguyễn Thị T số tiền là 15.000.000 đồng (bản Ch);

Các tài liệu, chứng cứ được bị đơn giao nộp, gồm: 01 sổ hộ khẩu mang tên Võ Bá Thuận (bản photo).

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Chị Nguyễn Thị T, tên gọi khác: T, sinh năm 1976; có địa chỉ tại: TDP 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh G; điều này được thể hiện qua chứng cứ do chị T giao nộp là Sổ hộ khẩu gia đình đứng tên chủ hộ Nguyễn Thị T (bản photo) và Giấy CMND mang tên Nguyễn Thị T (bản photo).

Bà Lê Thị C, sinh năm 1971; có địa chỉ tại: TDP 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh G; điều này được thể hiện qua chứng cứ do bà C giao nộp là sổ hộ khẩu mang tên chủ hộ Võ Bá Thuận (bản photo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng dân sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Lê Thị C phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 15.000.000 đồng. Chị T là chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm nên được quyền khởi kiện, điều kiện khởi kiện của nguyên đơn được đảm bảo nên được xem xét và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh G theo như quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về nội dung giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, HĐXX thấy rằng: Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Giấy mượn tiền đề ngày 17/02/2018 âm lịch có nội dung bị đơn bà Lê Thị C mượn của chị T số tiền là 15.000.000 đồng và cam kết trả nợ trong vòng một tháng, phía dưới có chữ ký và ghi rõ họ tên Lê Thị C (Lê Thị M). Việc vay mượn tiền và chứng cứ là giấy mượn tiền như nói ở trên đã được bà C hoàn toàn thừa nhận, điều này thể hiện rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị T hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã được nguyên đơn đưa ra để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Việc bị đơn bà C xin được trả nợ dần theo quý, mỗi quý ba tháng trả 2.000.000 đồng đã không được nguyên đơn chị T đồng ý và trái với cam kết thỏa thuận trả nợ được ghi trong Giấy mượn tiền ngày 17/02/2018 âm lịch nên không được HĐXX chấp nhận.

Từ những phân tích như trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị T là có căn cứ và đúng pháp luật nên được HĐXX chấp nhận, buộc bị đơn bà C phải trả cho chị T số tiền nợ gốc là 15.000.000 đồng.

. Về án phí: Do yêu cầu của chị T được chấp nhận toàn bộ nên chị không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST), hoàn trả cho chị số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là 15.000.000 đồng x 5% = 750.000 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 91, 93, 94, 95, 108, 144, 147, 227, 228, 238 và 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Caên cöù vaøo caùc ñieàu 357, 463, 466, 468 vaø 470 cuûa Boä luaät daân söï năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/ 2016/ UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T, buộc bị đơn bà Lê Thị C phải trả cho chị T số tiền nợ gốc là 15.000.000 đồng (M lăm triệu đồng).

Kể từ ngày chị T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi bà C thi hành xong khoản tiền nợ nói trên thì hàng tháng bà C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí DSST: Buộc bà Lê Thị C phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 750.000 đồng.

Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 375.000 đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng phí, lệ phí Toà án số 0006710 ngày 04/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh G.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, hai đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm ./.

Cỡ chữ