vanban.org

Bản án 06/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 20/03/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Các tổ chức tín dụng.

147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. 30/12/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "DongAbank - T"
  • Tòa quyết gì? Luật Các tổ chức tín dụng.
  • Căn cứ chính? Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 06/2019/DS - ST
Ngày: 20/3/2019
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín
dụng.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Lợi

2. Ông Dương Xuân Đính

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hà- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh,

Thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh đã tiến hành mở phiên tòa

xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 203/2018/TLST- DS ngày 28

tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXX - ST ngày 01 tháng 3 năm 2019 giữa các

đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.

Trụ sở: Số130 phố P, phường 3, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T - Chủ tịch Hội đồng quản

trị.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đỗ Hoàng Mai C -

Gám đốc Phòng giao dịch B (theo văn bản ủy quyền số 906/QĐ – DAB – PC

ngày 21/5/2016)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974.

Trú tại: Thôn T, xã B, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.

Có mặt bà Mai C; Vắng mặt bà T (có đơn xin xét xử vắng mặt) tại phiên

tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

[1]. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như các tài liệu có trong hồ

sơ, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 02/8/2012, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (sau đây viết tắt là

“DongABank”) và bà Nguyễn Thị T đã ký kết Hợp đồng tín dụng bằng hình thức Giấy đăng ký vay tiền trả góp, kiêm khế ước nhận nợ số BM – TD – 131B. Theo đó, DongABank cho bà Nguyễn Thị T vay số tiền là 40.000.000 đồng; Thời hạn vay là 36 tháng tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên (14/8/2012); Mục đích vay: Tiêu dùng; mức lãi suất cho vay: 12%/năm.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, DongABank đã giải ngân cho

khách hàng thông qua việc mở tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, Dịch vụ Ngân hàng điện tử và vốn vay số tiền là 40.000.000 đồng. Từ ngày 14/2/2012 đến ngày 14/8/2015 Bà Nguyễn Thị T đã trả được 31.255.405 đồng nợ gốc và 8.994.595 đồng tiền lãi trong hạn. Kể từ ngày 14/8/2015 cho đến nay bà Nguyễn Thị T không trả nợ gốc và nợ lãi nên toàn bộ khoản nợ gốc còn lại đã chuyển sang nợ quá hạn và phải chịu lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận.

Tính hết đến ngày 20/3/2019, bà Nguyễn Thị T còn nợ DongABank tổng

số tiền là 22.732.799 đồng; Trong đó nợ gốc: 8.744.595 đồng; nợ lãi trong hạn chưa thanh toán: 5.405.405; nợ lãi quá hạn: 8.582.799 đồng.

[2]. Quan điểm của bị đơn:

Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng bà Nguyễn Thị T không đến Tòa án để

giải quyết vụ án, do vậy mà Tòa án không thể ghi được lời khai của bà Nguyễn Thị T.

[3]. Tại phiên tòa, DongABank vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bà Nguyễn

Thị T phải trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn, tính đến hết ngày 20/3/2019 là tổng số tiền là 22.732.799 đồng.

Buộc bà Nguyễn Thị T tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa

trả theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 21/3/2019 cho đến ngày bà Nguyễn Thị T thanh toán hết các khoản nợ cho DongABank.

[4]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát

biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tham gia tố tụng, của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của DongABank.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ; căn cứ kết quả thẩm tra

chứng cứ tại phiên tòa; căn cứ việc hỏi tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có đăng ký kinh doanh số xxxxxxxxxx

do Sở Kế hoạch đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp lần đầu ngày 08/4/1992,

thay đổi lần thứ 39 ngày 11/9/2015, địa chỉ trụ sở chính tại: Số130 phố P,

phường 3, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T - Chủ tịch Hội đồng quản

trị.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974,trú tại: Thôn T, xã B, huyện Đ,

Thành phố Hà Nội.

Hai bên đã cùng nhau ký hợp đồng tín dụng để vay vốn nhằm mục đích

vay tiêu dùng. Như vậy, cả hai bên đều đủ tư cách và có quyền ký kết, thực hiện

các hợp đồng dân sự và tham gia tố tụng để giải quyết tranh chấp phát sinh từ

các hợp đồng đã ký kết. Tòa án nhân dân huyện Đông Anh thụ lý và giải quyết

vụ án là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật

tố tụng dân sự.

. Về việc xét xử vắng mặt đương sự:

Tòa án nhân dân huyện Đông Anh đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án

ra xét xử cho các đương sự, nhưng bà Nguyễn Thị T đã có đơn xin xét xử vắng

mặt. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy

định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Ngày 02/8/2012, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (sau đây viết tắt là

“DongABank”) và bà Nguyễn Thị T đã ký kết Hợp đồng tín dụng bằng hình thức

Giấy đăng ký vay tiền trả góp Kiêm khế ước nhận nợ số BM – TD – 131B. Theo đó,

DongABank cho bà Nguyễn Thị T vay số tiền là 40.000.000 đồng; Thời hạn vay là

36 tháng tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên (14/8/2012); Mục đích vay: Tiêu

dùng; mức lãi suất cho vay: 12%/năm.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của DongABank yêu cầu bà

Nguyễn Thị Tuyến phải trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn,

tính đến hết ngày 20/3/2019 là 22.732.799 đồng.

Xét thấy: Đây là hợp đồng tín dụng có thỏa thuận lãi trong hạn, lãi quá

hạn. Hợp đồng kết thúc khi bên vay thực hiện xong toàn bộ các nghĩa vụ thanh

toán nợ gốc và nợ lãi theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Đến nay bà

Nguyễn Thị T vẫn chưa trả hết nợ gốc và nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn cho

DongABank. Theo bản giải trình về cách thức tính lãi trong hạn, lãi quá hạn của

hợp đồng tín dụng nêu trên là phù hợp theo cách tính lãi suất nợ quá hạn được quy

định tại Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

Do vậy buộc bà Nguyễn Thị T phải trả cho VPBank tổng số tiền tính đến hết

ngày 20/3/2019 là 22.732.799 đồng; Trong đó nợ gốc: 8.744.595 đồng; nợ lãi

trong hạn chưa thanh toán: 5.504.405; nợ lãi quá hạn: 8.582.799 đồng.

Kể từ ngày 21/3/2019 bà Nguyễn Thị T còn phải tiếp tục trả cho

DongABank khoản tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc thực tế chưa trả với mức lãi suất theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi tất toán khoản vay.

. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị T phải chịu tiền án phí sơ thẩm là: 22.732.799 đồng x

5% = 1.137.000 (một triệu, một trăm ba mươi bảy nghìn) đồng, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

- Trả lại DongABank số tiền tạm ứng án phí là 554.000 đồng đã nộp theo

biên lai thu tiền số AA/2017/8130 ngày 27/12/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo

quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Luật Các tổ chức tín dụng.

- Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 144; Điều

147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày

30/12/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ

phần Đ đối với bà Nguyễn Thị T.

3. Buộc bà Nguyễn Thị T trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ tổng

số tiền tính đến hết ngày 20/3/2019 là: 22.732.799 đồng (hai mươi hai triệu, bảy trăm ba mươi hai nghìn, bảy trăm chín mươi chín) đồng. Trong đó nợ gốc: 8.744.595 đồng; nợ lãi trong hạn chưa thanh toán: 5.504.405; nợ lãi quá hạn: 8.582.799 đồng.

4. Buộc bà Nguyễn Thị T tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa

trả, kể từ ngày 21/3/2019 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng bằng hình thức Giấy đăng ký vay tiền trả góp Kiêm khế ước nhận nợ số BM – TD – 131B ngày 02/8/2012 cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc

bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án

dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật

thi hành án dân sự.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị T phải chịu tiền án phí sơ thẩm là: 1.137.000 (một triệu,

một trăm ba mươi bảy nghìn) đồng.

- Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí là

554.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2017/8130 ngày 27/12/2018

tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.

6. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn

15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ

ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ