vanban.org

Bản án 06/2019/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các Điề u 280; 351; 357; 430; khoản 1, 3 Điề u 440; Điề u 468 của Bộ luậ t Dân sự . Khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điề u 147; Điề u 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H, buộc chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Đông và ông Nguyễn Duy Hưng tổ ng số tiền cả gốc và lãi là 77.937.673đ (bẩ y mươi bẩ y triệ u chí n trăm ba mươi bẩ y nga… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Nguyễn Thị Đ - Nguyễn Thị T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các Điề u 280; 351; 357; 430; khoản 1, 3 Điề u 440; Điề u 468 của Bộ luậ t Dân sự . Khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điề u 147; Điề u 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2019/DS-ST
Ngày: 04 - 7 - 2019
V/v: Tranh chấp hợ p đồ ng
mua bá ntài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Xuân Nghiêm

2. Ông Phạ m Văn Xuân

- Thư ký phiên toà: Ông Hứ a Văn Nghiệ p - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạ m Văn Tiế n - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở, Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 05/2019/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp hợ p đồ ngmua bá n tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2019 và Quyế t đị nh hoã n phiên tòa ngày18 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Đồng Nguyên đơn:

Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ông Nguyễn Duy H, sinh năm 1957, vắng mặt. Ngườ i đượ c ủ y quyề n củ a ông Nguyễ n Duy H: bà Nguyễ n Thị Đ (đồ ng nguyên đơn).

Cùng địa chỉ: Số N, đường B, khu A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

2. Đồng bị đơn:

Chị Nguyễ n Thị T, sinh năm 1979, vắng mặt.

Anh Hoàng Văn A, sinh năm 1976, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Xóm V, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và những lời khai tiếp theo, đồ ng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H trình bày:

Gia đì nh ông, bà kinh doanh lương thự c, phân bó n, thứ c ăn gia sú c, từ mố i quan hệ khách hàng, vợ chồ ng chị Nguyễ n Thị T, anh Hoàng Văn A có đặt vấn đề mua nợ tiề n hàng và được ông , bà đồng ý, hai bên thỏ a thuậ n miệ ng là sau 3 tháng phải trả hết nợ, nế u sai phả i trả lã i. Từ đó vợ chồng anh chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A bắ t đầ u mua nợ tiề n hàng với gia đình ông bà từ ngày 31/3/2016, nhưng khi đế n hạ n chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A lại không thanh toá n đượ c hế t tiề n hà ng mà khấ t lầ n. Năm 2017 chị Nguyễ n Thị T có ra trình bày hoàn cả nh gia đì nh nên ông bà tiế p tụ c cho chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A mua nợ cá m lợ n về chăn nuôi tiế p, hai bên thỏa thuận miệ ng cộ ng thêm 1.890.000đ là tiề n lã i củ a số tiề n nợ trướ c đó và hẹn hế t thá ng 4 năm 2017 chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A sẽ trả xong toàn bộ số tiề n nợ cho ông bà. Nhưng hế t thá ng 4/2017 chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A vẫ n không trả được nợ, hai bên lại tiếp tục thỏa thuận miệ ng về việ c tí nh lã i củ a số tiề n nợ còn lại là 1,5%/tháng tính từ tháng 5/2017, sau đó chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A có ra mua hàng tiế p mộ t lầ n và o ngà y 06/10/2017 từ đó không còn đến mua hàng và cũng không có trách nhiệm về khoản tiền nợ của ôn g bà . Tính đến ngày 06/10/2017 chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A còn nợ tiề n cám lợn là 64.663.450đ. Ngày 12/7/2018 bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H đã đế n nhà chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A, hai bên đã thố ng nhấ t lậ p “biên bả n đố i chiế u công nợ ” chố t số tiề n nợ cò n lạ i là 71.363.000đ, chị Nguyễ n Thị T, anh Hoàng Văn A có hẹn đến 30/7/2018 sẽ trả hết số tiề n nợ trên. Khi đến hạn ông bà đã đòi nhiều lần nhưng chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A vẫ n chưa trả đượ c . Nay bà Nguyễ n Thị Đ và ông Nguyễ n Duy H khở i kiệ n yêu cầ u vợ chồ ng chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A phải có trách nhiệm trả cho vợ chồ ng bà tổ ng số tiề n là 71.363.000đ theo “biên bả n đố i chiế u công nợ ” lậ p ngà y 12/7/2018 có chữ ký của hai vợ chồng anh chị Nguyễ n Thị T và Hoàng Văn A và yêu cầu trả lãi của số tiền nợ trên với mức lãi xuất là 1%/tháng tính từ ngày 01/8/2018 đến khi trả xong nợ . Số tiề n lã i bà Nguyễ n Thị Đ và ông Nguyễ n Duy H tạm tính đến ngày 18/6/2019 là 10 tháng 18 ngày (tổ ng 318 ngày) x 71.363.000 đồng x 1%/ tháng/30 ngày = 7.564.478đ. Tổng cộ ng cả gốc và lãi bà Nguyễn Thị Đông và ông Nguyễn Duy Hưng yêu cầu chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A phải trả là 78.927.478 đồng.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 21/3/2019 và những lời khai tiếp theo , bị đơn chị Nguyễ n Thị T trình bày:

Trong năm 2016-2017 gia đì nh anh chị có làm nông nghiệp và chăn nuôi lợn số lượng lớn nên thường xuyên ra cửa hàng lương thực của bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H để mua nợ tiề n hà ng chủ yế u để chăn nuôi trong gia đì nh và mộ t phầ n nhỏ bá n lạ i cho mộ t số hộ gia đì nh trong thôn . Qúa trình mua, có lần đã trả tiề n v à có lần mua nợ với ông bà Đ, H, mỗi lần mua nợ đề u ký sổ của ông bà Đ, H, chị không lập sổ theo dõi nợ. Tuy nhiên đế n khi lợn được xuất chuồng, giá mua trên thị trường lại quá thấp và không có nơi tiêu thụ, kinh tế gia đì nh khó khăn, phần cám bán cho các hộ trong thôn cũng không thu được tiền, nên gia đì nh chị không có tiề n để trả cho ông bà Đ

, H. Tính đến ngày 06/10/2017 anh chị còn nợ tiền cám lợn là 64.663.450đ. Ngày 12 tháng 7 năm 2018 ông bà Đ, H đến nhà đòi trả nợ, do chưa có tiền trả nên ông bà Đ, H đã lập “biên bản đối chiếu công nợ” cộ ng cả nợ gố c và lã i thà nh

tổ ng số nợ là 71.363.000 đồng, chị đã ký vào biên bản nhưng không để ý biên bản ghi nợ gốc và lãi như thế nào . Nay bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H khở i kiệ n yêu cầ u vợ chồ ng chị trả nợ số tiề n là 71.363.000 đồng, chị không đồng ý mà chỉ chấ p nhậ n trả cho ông bà Đ

, H số tiề n gố c là 64.663.450đ tí nh đế n ngà y 06/10/2017. Về lãi xuấ t, do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, chưa có khả năng trả nợ gố c nên chị Nguyễ n Thị T không đồ ng ý trả lã i như nguyên đơn yêu cầ u.

Tại bản tự khai , biên bả n ghi lờ i khai ngà y 18/4/2019, bị đơn anh Hoàng Văn A khai:

Năm 2017 vợ chồng anh chăn nuôi lợn làm kinh tế và đượ c mua cám lợ n của nhà bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H, toàn bộ các lần đi mua đều do vợ anh là chị Nguyễ n Thị T mua nên anh không được biết hiệ n vợ chồ ng anh còn nợ tiề n cá m củ a bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H là bao nhiêu tiề n. Tuy nhiên khi lơn đượ c bá n thì giá lại quá rẻ và không có người mua , nên anh chị không có tiền trả nợ . Khoảng tháng 7 năm 2018 bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H có đến nhà đòi tiền nợ và hai bên có lậ p giấ y đố i chiế u công nợ , chị Nguyễ n Thị T là vợ anh đọc và bảo anh ký vào biên bản nên anh chỉ ký mà không đọ c lạ i biên bả n. Nay bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H khở i kiệ n yêu cầ u vợ chồ ng anh trả số tiề n nợ là 71.363.000đ theo biên bả n đố i chiế u công nợ lậ p ngà y 12/7/2018, anh không đồng ý, vì theo bản kê theo dõi công nợ mà ông bà Đông, Hưng cung cấ p, tính đến ngày 06/10/2017 vợ chồ ng anh còn nợ bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H số tiề n gố c là 64.663.450đ nên anh chỉ chấ p nhậ n trả số tiề n nợ gố c trên , còn khoản tiền lãi anh không đồng ý trả như ông bà Đông, Hưng yêu cầ u. Và anh Hoàng Văn A đề nghị bà Nguyễ n Thị Đ và ông Nguyễ n Duy H cho vợ chồ ng anh được trả dần số tiền nợ gố c trên.

Quá trình giải quyế t, các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án. Đồng nguyên đơn giữ nguyên yêu cầ u khở i kiệ n đề nghị chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A trả số tiền nợ theo biên bản đối chiếu công nợ đã ký là 71.363.000đ và y êu cầu trả lãi của số tiền 71.363.000đ vớ i mứ c lã i xuấ t là 1%/tháng tính từ ngày 01/8/2018 đến khi trả xong toàn bộ số nợ . Đồng b ị đơn chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A không đồng ý về số tiề n nợ gố c là 71.363.000đ mà chỉ chấp nhận trả nợ gốc là 64.663.450đ tí nh đế n ngày 06/10/2017 và không đồ ng ý trả lã i.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hộ i đồ ng xé t xử , Thư ký và phát biểu quan điểm giải quyết nội dung vụ án như sau:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về Thẩm quyền thụ lý vụ án; thông bá o thụ lý ; xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng ; việc giao nộp , thu thập chứng cứ ; thủ tục cấ p , thông bá o , tố ng đạ t cá c văn bả n tố tụ ng ; thời hạn chuẩn bị xét xử; thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ; quyế t đị nh đưa vụ á n ra xé t xử và chuyể n hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đề u được thực hiện thự c hiệ n đúng theo quy đị nh tạ i cá c Điều 26, 39, 68, 93, 97, 195, 196, 203, 208, 211, 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về xá c đị nh quan hệ phá p luậ t tranh chấ p , quan điể m củ a đạ i diệ n Việ n kiể m sá t quan hệ phá p luậ t c

ó tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấ p hợ p đồ ng mua bá n hà ng hó a” vì bả n chấ t quan hệ tranh chấ p củ a đương sự phá t sinh từ từ việ c mua bá n cá m , thứ c ăn chăn nuôi và phân bó n , do vậ y việ c Tò a á n xá c đị nh quan hệ tranh chấ p là “kiệ n đò i tà i sả n” là chưa chí nh xác, cầ n xá c đị nh lạ i quan hệ tranh chấ p để á p dụ ng phá p luậ t phù hợ p trong quá trình giải quyết vụ án .

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; thư ký đã thự c hiệ n đú ng nhiệ m vụ , quyề n hạ n quy đị nh tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự . Việc chấ p hà nh pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thự c hiệ n đầ y đủ quyề n và nghĩ a vụ tố tụ ng theo quy đị nh tạ i Điề u 70, 71 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự ; bị đơn không có mặt theo giấy triệu tậ p củ a Tò a á n là không thự c hiệ n đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: xác định có việc bị đơn nợ số tiền

71.363.450đ củ a nguyên đơn do hai bên đương sự thừ a nhậ n và căn cứ biên bả n đố i chiế u công nợ ngà y 12/7/2018 có chữ ký đầy đủ của các bên , do vậ y, cầ n chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a nguyên đơn buộ c bị đơn phả i trả cho nguyên đơn số tiề n nợ là 71.363.450đ. Đối với yêu cầ u về lã i : do cá c đương sự không thỏa thuận được về lãi nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự, buộ c bị đơn phả i trả lã i cho nguyên đơn theo mứ c lã i xuấ t là 10%/năm đố i vớ i số nợ gố c là 71.363.450đ tí nh từ ngà y 01/8/2018 đến ngày xét xử 04/7/2019. Về á n phí : Bị đơn phải chịu án phí dân sự giá ngạch sung ngân sá ch Nhà nướ c.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về việc xét xử vắng mặ t cá c đương sự : Tại phiên tò a ngày 18/6/2019 đồ ng bị đơn vắ ng mặ t , Hộ i đồ ng xé t xử quyế t đị nh hoã n phiên tò a . Sau khi mọ i ngườ i đã ra về , đến 9 giờ 30 phút ngày 18/6/2019 đồ ng bị đơn có mặ t tạ i Tò a á n. Tại phiên tòa lầ n 2 ngày hôm nay (04/7/2019) đồ ng bị đơn chị Nguyễ n Thị T và Hoàng Văn A vắng mặt không có lý do; nguyên đơn có đơn xin xé t xử vắ ng mặ t. Do vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt tấ t cả cá c đương sự .

Về xác định quan hệ tranh chấp: xét quan hệ tranh chấp giữa các đương sự phá t sinh từ hoạ t độ ng mua bá n hà ng hó a phục vụ nhu cầu chăn nuôi phát triển kinh tế củ a hộ gia đì nh nên xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; bản chất tranh chấpphát sinh giữ a các đương sựtrong vụ á n nà ylà việc bên mua không thanh toán tiền mua hàng cho bên bá n, do vậ y căn cứ quy đị nh tạ i Điề u 430 Bộ luậ t Dân sự xá c đị nh quan hệ tranh chấ p trong vụ á n nà y là “Tranh chấ p hợ p đồ ng mua bá n tà i sả n” như đạ i diệ n Việ n kiể m sá t đưa ra là có căn cứ.

Về thẩm quyền: Căn cứ Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự, bị đơn là cá nhân hiện cư trú , sinh số ng trên đị a bà n huyệ n Hữ u Lũ ng n ên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

Về yêu cầu trả nợ gốc: Giao dịch giữ a bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H vớ i chị Nguyễ n Thị T và Hoàng Văn A đượ c xá c lậ p năm 2016 từ hợp đồng m ua bá n hàng hóa (cám lợn, thứ c ăn chăn nuôi và phân bó n ) bằ ng miệ ng. Việ c mua, bán, thanh toá n tiề n và ghi nợ đượ c lặ p đi lặ p l ại nhiều lần , chố t đế n ngà y 06/10/2017 các bên không tiế p tụ c thự c hiệ n việ c mua bá n thì bên mua là chị Nguyễ n Thị T và Hoàng Văn A còn nợ bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H số tiề n hàng là 64.663.450đ. Đế n ngà y 12/7/2018 các bên đã lậ p và ký “biên bả n đố i chiế u công nợ ” xác nhận số tiền nợ tính đến ngày 12/7/2018 là 71.363.000đ đã cộ ng lãi 1%/tháng đến 30/7/2018, hẹn đến 30/7/2018 sẽ thanh toán nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán . Đồng bị đơn chị Nguyễ n Thị T , anh Hoàng Văn A chỉ chấp nhận trả số tiền nợ gốc tính đến ngày

06/10/2017 là 64.663.450đ và không chấ p nhậ n trả lã i. Tuy không chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n của nguyên đơn nhưng chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A đều thừ a nhậ n đượ c mua nợ tiề n cá m , thứ c ăn chăn nuôi và phân bó n vớ i bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H và được ký nhậ n nợ tạ i “biên bả n đố i chiế u công nợ ” lậ p ngày 12/7/2018 xác nhận số tiền còn nợ là 71.363.000đ. Do vậ y, yêu cầ u khở i kiệ n củ a nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H đưa ra là có căn cứ, cần chấp nhận, buộc chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A phải thanh toán tiền hàng còn nợ là 71.363.000đ cho bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H.

Về yêu cầ u trả lãi: Tại biên bản đối chiếu công nợ hai bên thỏa thuận lãi xuất là 3%/tháng tính từ ngày 01/8/2018, tuy nhiên thỏ a thuậ n trên là vượ t quá mứ c lãi xuất giới hạn được quy định tại khoản 1 Điề u 468 Bộ luậ t Dân sự nên thỏ a thuậ n trên không đượ c chấ p nhậ n. Quá trình chuẩn bị xét xử các đương sự không tự thỏ a thuậ n đượ c về mứ c lã i xuấ t . Do vậ y Hộ i đồ ng xé t xử xem xé t giải quyết theo quy đị nh củ a phá p luậ t . Căn cứ khoả n 2 Điề u 468 của Bộ luật Dân sự thì lã i xuấ t đượ c tí nh trong trườ ng hợ p nà y bằ ng 50% mứ c lã i xuấ t giớ i hạn quy định tại khoản 1 Điề u 468 của Bộ luật Dân sự , cụ thể bằng 10%/năm, tương đương 0,83%/tháng. Như vậ y số tiề n lã i đượ c xá c đị nh trên số tiề n nợ 71.363.000đ tí nh từ ngà y 01/8/2018 đến ngày xét xử (04/7/2019) tổ ng là 11 tháng 03 ngày (bằ ng 333 ngày). Cụ thể: 11 tháng 03 ngày x 71.363.000 x 0,83%/30 ngày = 6.574.673đ. Tổ ng số tiề n nợ + lãi tính từ ngà y 01/8/2018 đến ngày 04/7/2019 buộ c chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H là 77.937.673đ.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H đượ c chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Duy H không phả i chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A phải chịu án phí dân sự có giá ngạch để sung ngân sách Nhà nước theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 147 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự ; điể m b khoả n 1 Điề u 24; khoản 2 Điề u 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điề u 280; 351; 357; 430; khoản 1, 3 Điề u 440; Điề u 468 của Bộ luậ t Dân sự . Khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điề u 147; Điề u 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điể m b khoả n 1 Điề u 24; khoản 2 Điề u 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Duy H, buộc chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị Đông và ông Nguyễn Duy Hưng tổ ng số tiền cả gốc và lãi là 77.937.673đ (bẩ y mươi bẩ y triệ u chí n trăm ba mươi bẩ y ngà n sáu trăm bảy mươi ba đồ ng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí: Buộc chị Nguyễ n Thị T và anh Hoàng Văn A phải chịu 3.896.883đ (ba triệ u tám trăm chín mươi sáu ngàn tám trăm tám mươi ba đồ ng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch sung ngân sách nhà nước.

Hoàn trả cho bà Nguyễ n Thị Đ và ông Nguyễ n Duy H

tổ ng số tiề n 3.996.000đ (ba triệ u chí n trăm chí n sá u ngà n đồ ng ) tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2012/0000983 ngày 04/01/2019 và số AA/2012/0000986 ngày 08/01/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắ ng mặ t có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhậ n đượ c bả n á n xử vắ ng mặ t hoặ c kể từ ngà y bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ