vanban.org

Bản án 06/2018/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI XUÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 11/01/2018
V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Huy Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Quân.

2. Ông Lê Viết Hùng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân: Bà Phan Thị Huy Linh

- Chức vụ Kiểm sát viên.

Vào hồi 9 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 01 năm 2018 tại Hội trường xét xử

Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ

án thụ lý số: 136/2017/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2017 theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2017/QĐXX-ST ngày 11 tháng 12 năm 2017

giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị C – Sinh năm 1995

Địa chỉ: Xóm Trường H, xã Xuân T, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Trần Văn L – Sinh năm 1989

Địa chỉ: Xóm Trường T, xã Xuân T, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh

( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai của người xin ly hôn cũng như

tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn L có đăng ký hết hôn với nhau

ngày 13/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Trường, huyện Nghi Xuân, tỉnh

Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng hơn một năm nay

anh Lánh không chịu khó làm ăn, chăm lo gia đình, dẫn đến vợ chồng hay xảy

mâu thuẫn, ngày 16 tháng 9 năm 2017 chị C đã về bên ngoại sinh sống và ly

thân từ đó đến nay. Nay chị C thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa và xin

được ly hôn với anh L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị Thùy C sinh ngày

28/5/2016, hơn 01 tháng nay anh L đưa con về bên nội và cản trở không cho chị đưa con về chăm sóc. Nếu ly hôn, chị xin được nuôi cháu Trần Thị Thùy C và không yêu cầu anh L trợ cấp tiền nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố

tụng, bị đơn đã nhận được nhưng vắng mặt không có lý do vì vậy Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai, hòa giải theo quy định của pháp luật. Sau khi đưa vụ án ra xét xử Tòa đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không tham gia phiên tòa lần 1, HĐXX hoãn phiên tòa. Tòa án đã tiến hành niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa do bị đơn vắng mặt tại địa phương vào ngày 26 tháng 12 năm 2017 nhưng phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Anh Trần Văn L đã nhận được thông báo hợp lệ nhưng

không chấp hành, không tham gia phiên tòa vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

[ 2]. Xét quan hệ hôn giữa anh Trần Văn L và chị Lê Thị C HĐXX nhận

thấy đây là hôn nhân hợp pháp các bên không vi phạm điều kiện và đăng ký kết hôn quy định tại điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc, đến ngày 16/9/ 2017 ly thân cho đến nay do thường xuyên mâu thuẫn. Nay chị C không còn tình cảm với anh L, hạnh phúc gia đình không thể hàn gắn được, chị yêu cầu được ly hôn.

Đối với anh Trần Văn L, tuy Tòa án không lấy được lời khai nhưng quá

trình giải quyết vụ án cho thấy bị đơn hoàn toàn không quan tâm đến hôn nhân của mình, thể hiện như từ bỏ tham gia tố tụng, không tham gia hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Xét thấy hôn nhân của các đương sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thiết nghĩ cần xử ly hôn để chị Lê Thị C, anh Trần Văn L tạo lập cuộc sống mới là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Sau khi ly hôn các đương sự không thỏa thuận được

việc nuôi con, nguyện vọng của nguyên đơn được nuôi con chung không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng, bị đơn từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật nên tòa không thể lấy ý kiến của bị đơn về quan hệ con chung. Qua xác minh hiện anh L không có mặt tại địa phương đi đâu, làm gì địa phương không nắm được nhưng con chung của vợ chồng do ông bà nội nuôi dưỡng tại

xóm Trường Hải. Căn cứ vào các khoản 1, 2 điều 81; điều 82; điều 83 Luật hôn

nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị C là chính đáng, con

chung của vợ chồng dưới 36 tháng tuổi, do đó cần giao cho chị C trực tiếp nuôi

dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là hợp lý.

. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu HĐXX miễn xét.

. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp

luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39,

khoản 4 điều 147, điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56, điều 57, điều 58, điều 81, điều 82 và

điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và

sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị C được ly hôn với anh Trần

Văn L.

[2] Về con chung: Giao con chung Trần Thị Thùy C sinh ngày 28/5/2016

cho chị Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Tạm thời

anh Lánh không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm con chung

không ai được phép cản trở.

[3] Về án phí: Chị Lê Thị C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

án phí ly hôn và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn đã nộp là 300.000

đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000530 ngày 23/11/2017 của Chi

cục thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong

hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ