- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2018/HNGĐ-ST Ngày: 11/01/2018 V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Huy Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Quân.
2. Ông Lê Viết Hùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân: Bà Phan Thị Huy Linh
- Chức vụ Kiểm sát viên.
Vào hồi 9 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 01 năm 2018 tại Hội trường xét xử
Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ
án thụ lý số: 136/2017/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2017 theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2017/QĐXX-ST ngày 11 tháng 12 năm 2017
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị C – Sinh năm 1995
Địa chỉ: Xóm Trường H, xã Xuân T, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)
2. Bị đơn: Anh Trần Văn L – Sinh năm 1989
Địa chỉ: Xóm Trường T, xã Xuân T, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai của người xin ly hôn cũng như
tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn L có đăng ký hết hôn với nhau
ngày 13/3/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Trường, huyện Nghi Xuân, tỉnh
Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng hơn một năm nay
anh Lánh không chịu khó làm ăn, chăm lo gia đình, dẫn đến vợ chồng hay xảy
mâu thuẫn, ngày 16 tháng 9 năm 2017 chị C đã về bên ngoại sinh sống và ly
thân từ đó đến nay. Nay chị C thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa và xin
được ly hôn với anh L.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị Thùy C sinh ngày
28/5/2016, hơn 01 tháng nay anh L đưa con về bên nội và cản trở không cho chị đưa con về chăm sóc. Nếu ly hôn, chị xin được nuôi cháu Trần Thị Thùy C và không yêu cầu anh L trợ cấp tiền nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố
tụng, bị đơn đã nhận được nhưng vắng mặt không có lý do vì vậy Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai, hòa giải theo quy định của pháp luật. Sau khi đưa vụ án ra xét xử Tòa đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không tham gia phiên tòa lần 1, HĐXX hoãn phiên tòa. Tòa án đã tiến hành niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa do bị đơn vắng mặt tại địa phương vào ngày 26 tháng 12 năm 2017 nhưng phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng: Anh Trần Văn L đã nhận được thông báo hợp lệ nhưng
không chấp hành, không tham gia phiên tòa vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
[ 2]. Xét quan hệ hôn giữa anh Trần Văn L và chị Lê Thị C HĐXX nhận
thấy đây là hôn nhân hợp pháp các bên không vi phạm điều kiện và đăng ký kết hôn quy định tại điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc, đến ngày 16/9/ 2017 ly thân cho đến nay do thường xuyên mâu thuẫn. Nay chị C không còn tình cảm với anh L, hạnh phúc gia đình không thể hàn gắn được, chị yêu cầu được ly hôn.
Đối với anh Trần Văn L, tuy Tòa án không lấy được lời khai nhưng quá
trình giải quyết vụ án cho thấy bị đơn hoàn toàn không quan tâm đến hôn nhân của mình, thể hiện như từ bỏ tham gia tố tụng, không tham gia hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Xét thấy hôn nhân của các đương sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thiết nghĩ cần xử ly hôn để chị Lê Thị C, anh Trần Văn L tạo lập cuộc sống mới là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Sau khi ly hôn các đương sự không thỏa thuận được
việc nuôi con, nguyện vọng của nguyên đơn được nuôi con chung không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng, bị đơn từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật nên tòa không thể lấy ý kiến của bị đơn về quan hệ con chung. Qua xác minh hiện anh L không có mặt tại địa phương đi đâu, làm gì địa phương không nắm được nhưng con chung của vợ chồng do ông bà nội nuôi dưỡng tại
xóm Trường Hải. Căn cứ vào các khoản 1, 2 điều 81; điều 82; điều 83 Luật hôn
nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị C là chính đáng, con
chung của vợ chồng dưới 36 tháng tuổi, do đó cần giao cho chị C trực tiếp nuôi
dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là hợp lý.
. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu HĐXX miễn xét.
. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39,
khoản 4 điều 147, điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56, điều 57, điều 58, điều 81, điều 82 và
điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị C được ly hôn với anh Trần
Văn L.
[2] Về con chung: Giao con chung Trần Thị Thùy C sinh ngày 28/5/2016
cho chị Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Tạm thời
anh Lánh không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm con chung
không ai được phép cản trở.
[3] Về án phí: Chị Lê Thị C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
án phí ly hôn và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn đã nộp là 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000530 ngày 23/11/2017 của Chi
cục thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nghi Xuân; - CCTHADS huyện Nghi Xuân; - UBND xã Xuân Trường; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký, đóng dấu) Phạm Huy Bình |