- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty A khởi kiện Công ty B vè tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần B.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2018/KDTM-PT Ngày: 16/5/2018 V/v tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hữu Giàu
Các Thẩm phán:
Ông Hoàng Ngọc L
Bà Nguyễn Thị Minh Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
AG.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Ông Vũ Hồng Thanh,
Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 10, 16 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
AG xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2018/KDTM-PT, ngày
26/3/2018 về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa”. Do bản án kinh
doanh thương mại sơ thẩm số: 05/2018/KDTM-ST ngày 30 tháng 01 năm 2018
của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh AG bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 03/2018/QĐXX-
KDTM ngày 02 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty A
Trụ sở: Số 1234 đường V, phường T, Quận N, thành phố C.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn D – Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoài N, sinh năm 1979. Địa chỉ: số
12345, Quốc lộ A, phường T, Quận M, thành phố C.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần B.
Trụ sở: Số 4321 đường H (Cụm tiểu thủ công nghiệp Q), phường Q, thành
phố L, tỉnh AG.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1960 – Chức
vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Vân L
– Trưởng Văn phòng Luật sư Trần Vân L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
Địa chỉ: Số 12345, đường N, Phường X, quận T, Thành phố H.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1960. Địa chỉ: số
54321/2X đường L, phường M, thành phố L, tỉnh AG.
3. Người kháng cáo: Công ty Cổ phần B.
(Tại phiên tòa có mặt ông Nguyễn Hoài N đại diện ủy quyền nguyên đơn,
ông Nguyễn Thanh S đại diện ủy quyền bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị đơn luật sư Trần Vân L, riêng bà Nguyễn Thị D người làm chứng vắng mặt không lý do)
NỘI D VỤ ÁN:
Theo nội D án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/12/2016, các bản tự khai, các biên bản làm
việc trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Nguyên từ tháng 03/2011 đến tháng 09/2011 phía Công ty A (Sau đây gọi
tắc là Công ty A) và Nhà máy chế biến thức ăn thủy sản VT (Sau đây gọi tắt là Nhà máy VT) là chi nhánh của bị đơn là Công ty Cổ phần B (Sau đây gọi tắt là Công ty B), đã thỏa thuận và thống nhất ký kết:
1. Hợp đồng bán nguyên liệu số 63/2011 – HĐBNL.GFC ngày 11/3/2011
giữa bên bán là Công ty Cổ phần Thủy sản G (Nay là Công ty A) và bên mua là chi nhánh Công ty Cổ phần B – Nhà máy Chế biến Thức ăn thủy sản VT. Tổng giá trị hợp đồng là 700.000.000 VNĐ. Hàng hóa mua bán là cám mì Indonesia, số lượng 140.000 kg, đơn giá 5.000 VNĐ/kg.
2. Hợp đồng bán nguyên liệu số 66/2011 – HĐBNL.GFC ngày 22/3/2011
giữa bên bán là Công ty Cổ phần Thủy sản G và bên mua là chi nhánh Công ty B – Nhà máy Chế biến Thức ăn thủy sản VT. Tổng giá trị hợp đồng là 1.685.250.000 VNĐ. Hàng hóa mua bán là cám mì, số lượng 300.000 kg, đơn giá 5.617.5 VNĐ/kg.
3. Hợp đồng bán nguyên liệu số 081/2011 – HĐBNL.GFC ngày 05/5/2011
giữa bên bán là Công ty Cổ phần Thủy sản G và bên mua là chi nhánh Công ty Cổ phần B – Nhà máy Chế biến Thức ăn thủy sản VT. Tổng giá trị hợp đồng là 1.391.250.000 VNĐ. Hàng hóa mua bán là cám mì, số lượng 250.000, đơn giá 5.565 VNĐ.
4. Hợp đồng bán nguyên liệu số 083/2011 – HĐBNL.GFC ngày
09/5/2011 giữa bên bán là Công ty Cổ phần Thủy sản G và bên mua là chi nhánh Công ty Cổ phần B – Nhà máy Chế biến Thức ăn thủy sản VT. Tổng giá trị hợp đồng là 510.000.000 VNĐ. Hàng hóa mua bán là bã đậu nành Ấn Độ, số lượng 50.000 kg, đơn giá 10.200 VNĐ/kg.
5. Hợp đồng bán nguyên liệu số 117/2011 – HĐBNL.GFC ngày
22/6/2011 giữa bên bán là Công ty Cổ phần Thủy sản G và bên mua là chi nhánh Công ty Cổ phần B – Nhà máy Chế biến Thức ăn thủy sản VT. Tổng giá trị hợp đồng là 2.663.700.000 đ. Loại hàng hóa thực hiện mua bán:
Trang 2
- Lúa mì, số lượng 50.000kg, đơn giá 7.000 VNĐ/kg, thành tiền 350.000.000
VNĐ;
- Bã đậu nành Ấn Độ, số lượng là 100.000Kg, đơn giá 9.142.86 VNĐ/kg,
thành tiền là 914.285.714 VNĐ.
- Cám mì, số lượng 170.000 kg, đơn giá 5.200 VNĐ/kg, thành tiền 884.000.000
VNĐ.
- Cám mì Indonesia, khối lượng 80.000 VNĐ, đơn giá 4.857.14 VNĐ/kg,
thành tiền 388.571.429 VNĐ.
6. Hợp đồng bán nguyên liệu số 126/2011 – HĐBNL.GFC ngày
11/7/2011 giữa bên bán là Công ty Cổ phần Thủy sản G và bên mua là chi nhánh
Công ty Cổ phần B – Nhà máy Chế biến Thức ăn thủy sản VT. Loại hàng hóa
thực hiện mua bán là bã đậu nành Ấn Độ, số lượng là 100.000Kg, đơn giá 9.500
VNĐ/kg, thành tiền là 950.000.000 VNĐ.
7. Hợp đồng bán nguyên liệu số 140/2011 – HĐBNL.GFC ngày
25/8/2011 giữa bên bán là Công ty Cổ phần Thủy sản G và bên mua là chi nhánh
Công ty Cổ phần B – Nhà máy Chế biến Thức ăn thủy sản VT. Tổng giá trị hợp
đồng là 1.593.000.000 VNĐ. Hàng hóa mua bán là:
- Cám mì nôi, số lượng 150.000 kg, đơn giá 5.200 VNĐ/kg.
- Lúa mì Úc, số lượng 40.000 kg, đơn giá 6.761.90 VNĐ/kg.
- Bã đậu nhà Argentina, số lượng 50.000 kg, đơn giá 9.333.33 VNĐ/kg.
8. Phụ lục số 01 theo hợp đồng số 140.2011 – HĐMBNL.GFC ngày
15/9/2011 về việc điều chỉnh số lượng lúa mì Úc và bã đậu nành Argentina, đơn
giá của bã đậu nành Argentina và thời gian giao hàng.
Quá trình thực hiện hợp đồng phía Công ty A đã cung cấp đầy đủ số
lượng, đúng tiêu chuẩn, chất lượng các loại nguyên liệu như cam kết, thỏa thuận
trong hợp đồng. Địa điểm giao nhận nguyên liệu tại kho của Nhà máy chế biến
thức ăn thủy sản VT (Chi nhánh của Bị đơn) thuộc huyện Châu Thành, tỉnh AG.
Tuy nhiên phía Nhà máy VT, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngay hợp
đồng 063/2011 – HĐMNL.GFC ngày 11/3/2011 và sau đó đã liên tục vi phạm
nghĩa vụ thanh toán đã được thỏa thuận tại các hợp đồng còn lại. Công ty A
nhiều lần gọi điện thoại cho Công ty B nhắc nhở và tạo điều kiện cho họ thanh
toán nợ, họ có hứa hẹn nhưng không thực hiện. Đến ngày 30/6/2011, Nhà máy
VT xác nhận có nợ theo thư xác nhận nợ ngày 30/06/2011, xác nhận còn nợ số
tiền là 3.950.239.601 đồng (Ba tỷ chín trăm năm mươi triệu hai trăm ba mươi
chín nghìn sáu trăm lẻ một đồng). Theo công văn số 25/CVVT ngày 12/10/2011
do bà Nguyễn Thị D giám đốc chi nhánh Nhà máy VT đã ký xác định còn nợ số
tiền là 4.143.527.231 đồng (Bốn tỷ một trăm bốn mươi ba triệu năm trăm hai
mươi bảy nghìn hai trăm ba mươi mốt đồng); và phần lãi suất là 280.395.552
đồng (Hai trăm tám mươi triệu ba trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm năm
mươi hai đồng). Từ năm 2012 đến năm 2016, Công ty B có chuyển trả cho Công
ty A một khoản tiền thì ngưng. Đến ngày 23/5/2016, nguyên đơn có gửi thư xác
Trang 3
nhận nợ thì được chi nhánh xác định còn nợ số tiền gốc là 873.459.321 đồng (Tám trăm bảy mươi ba triệu, bốn trăm năm mươi chín ngàn, ba trăm hai mươi mốt đồng).
Đến nay phía Công ty B không thanh toán được thêm khoản tiền nào cho
phía cho Công ty A, mà luôn tránh né mặc dù Công ty A rất nhiều lần liên hệ để yêu cầu thanh toán dứt điểm. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, Công ty A khởi kiện yêu cầu buộc Công ty cổ phần B phải trả tiền còn nợ là 873.459.321 đồng (Tám trăm bảy mươi ba triệu, bốn trăm năm mươi chín ngàn, ba trăm hai mươi mốt đồng) và tiền lãi chậm thanh toán tính từ ngày 01/7/2011 đến ngày 20/6/2017.
Theo các văn bản số 116 ngày 19/12/2016, số 13 ngày 21/02/2017, số 35
ngày 12/4/2017, số 42 ngày 09/6/2017, ông Nguyễn Thanh S là người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần B là bị đơn trình bày:
Ban Giám đốc của Công ty hiện nay là Ban Giám đốc mới tiếp nhận công
ty từ ngày 03 tháng 11 năm 2015, không nhận được bàn giao công nợ của của Nhà máy Chế biến Thức ăn thủy sản VT nên không có tài liệu cung cấp cho Tòa án và không có nghĩa vụ phải chứng minh không còn nợ Công ty Sản xuất Thương mại Dịch vụ GFC. Nhà máy thức ăn Thủy sản VT là chi nhánh hạch toán độc lập với công ty B và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Người làm chứng là bà Nguyễn Thị D trình bày tại biên bản ghi lời khai
ngày 23/6/2017: Trước đây, bà giữ chức vụ giám đốc Nhà máy VT là chi nhánh của Công ty B. Quá trình làm giám đốc, bà là người trực tiếp ký các hợp đồng thỏa thuận mua nguyên liệu của Công ty Cổ phần Thủy sản G, nay là Công ty A. Việc bà ký hợp đồng mua các nguyên liệu như bã đậu nành, cám mì, lúa mì của Công ty A là để chế biến, sản xuất thức ăn viên cho cá nuôi tại Công ty B. Chi nhánh Nhà máy VT hoạt theo ủy quyền của Công ty B theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoạt động chi nhánh. Việc mua nguyên liệu của Công ty A cũng nhằm mục đích phục vụ cho việc kinh doanh của Công ty B. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty A đã cung cấp hàng hóa kịp thời, đầy đủ và đúng như tiêu chuẩn, chất lượng đã thỏa thuận tại các hợp đồng. Do việc kinh doanh của Công ty B không thuận lợi nên đã chậm trễ thanh toán tiền hàng cho Công ty A. Do Nhà máy VT chỉ là chi nhánh của Công ty B, hoạt động theo sự ủy quyền của Công ty B nên Công ty B phải có nghĩa vụ trả tiền mua nguyên liệu còn nợ cho Công ty A.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:
Ông Nguyễn Hoài N là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi,
bổ sung, rút lại một phần yêu cầu khởi kiện. Cụ thể, nguyên đơn yêu cầu Công ty B thanh toán số tiền mua nguyên liệu còn nợ là 873.459.321 đồng (Tám trăm bảy mươi ba triệu, bốn trăm năm mươi chín ngàn, ba trăm hai mươi mốt đồng) và yêu cầu trả lãi do chậm thanh toán với lãi suất là 1%/tháng tính từ ngày 23/5/2016 đến ngày vụ án được giải quyết xong là 174.691.864 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu, sáu trăm chín mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi bốn đồng).
Trang 4
Tại bản án sơ thẩm số 05/2018/KDTM-ST ngày 30 tháng 01 năm 2018
của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh AG xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty A.
Buộc Công ty Cổ phần B có nghĩa vụ trả cho Công ty A số tiền là
1.048.151.185 đồng (Một tỷ không trăm bốn mươn tám triệu, một trăm năm
mươi mốt nghìn một trăm tám mưới lăm đồng). Trong đó bao gồm tiền mua
nguyên liệu còn nợ là 873.459.321 đồng (Tám trăm bảy mươi ba triệu, bốn trăm
năm mươi chính nghìn, ba trăm hai mươi mốt đồng) và tiền lãi chậm thanh toán
là 174.691.864 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu, sáu trăm chín mươi mốt
nghìn tám trăm sáu mươi bốn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi án sơ thẩm xử bị đơn Công ty Cổ phần B có đơn kháng cáo không
đồng ý bản án sơ thẩm của tòa án nhân dân thành phố L đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm..
Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho phía bi đơn phát biểu cho rằng
phía nguyên đơn chưa cung cấp được nợ của từng hợp đồng, chưa có chứng cứ
thể hiện bà Nguyễn Thị D được ủy quyền của Công ty B về ký hợp đồng, cấp sơ
thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ và chưa xem xét toàn diện vụ án nên đề
nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố L.
Đại diện Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự về thời hạn chuẩn bị xét xử,
quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên
cứu, gửi, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham
gia tố tụng theo các quy định, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các
nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội
đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật
của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý
vụ án, tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy
định tại các Điều 70, 71, 72, 73 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Trang 5
Về nội D: Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về hình thức:
Đơn kháng cáo của Công ty Cổ phần B trong hạn luật định, có nộp tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Công ty A không kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị đối với bản án sơ thẩm.
. Về nội D:
Theo giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, đăng ký lần thứ 4,
ngày 17/3/2014, tên chi nhánh: Chi nhánh Công ty Cổ phần B Nhà máy Chế biến thức ăn thủy sản VT.
Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn xác định Nhà máy Chế biến thức ăn
thủy sản VT là chi nhánh của Công ty Cổ phần B và đang hoạt động theo ngành nghề kinh doanh như đã đăng ký.
Quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm đã thu thập chứng cứ và xác định
hai bên có ký 07 hợp đồng mua bán nguyên liệu và 01 phụ lục hợp đồng. Đến ngày 23/5/2016 bà Nguyễn Thị D, Giám đốc chi nhánh Nhà máy Chế biến thức ăn thủy sản VT có xác nhận còn nợ 873.459.321 đồng.
Ông Nguyễn Thanh S cho rằng Ban giám đốc hiện nay là Ban giám đốc
mới tiếp nhận Công ty từ ngày 3/11/2015, không nhận được bàn giao công nợ của Nhà máy Chế biến thức ăn thủy sản VT nên không có tư liệu cung cấp cho Tòa án và không có nghĩa vụ chứng minh không còn nợ Công ty A. Nhà máy Chế biến thức ăn thủy sản VT là chi nhánh hạch toán độc lập với Công ty Cổ phần B và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Theo Công văn số 51/CV.2017 ngày 01/7/2017 của Công ty Cổ phần B,
công văn này do ông Nguyễn Thanh S Chủ tịch Hội đồng quản trị ký. Tại mục 2 của công văn thể hiện: Công ty Cổ phần B ký thư xác nhận nợ ngày 23 tháng 5 năm 2016 số tiền xác nhận 873.459.321 đồng là theo yêu cầu của công ty kiểm toán và số liệu do Ngân hàng cung cấp.
Như vậy Công văn số 51/CV.2017 ngày 01/7/2017 đã thừa nhận thư xác
nhận nợ của bà Nguyễn Thị D, Giám đốc Nhà máy Chế biến thức ăn thủy sản VT là xác nhận nợ của Công ty.
Hơn nữa theo các giấy báo có của Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội,
SHB chi nhánh C thể hiện: giấy báo có ngày 01/10/2012; 08/10/2013; 15/10/2012; 22/10/2012; 14/12/2012; 21/12/2012; 11/01/2013; 24/01/2013 đều do Công ty Cổ phần B thanh toán tiền hàng của Nhà máy VT cho Công ty A.
Qua tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy Nhà
máy Chế biến thức ăn thủy sản VT vẫn còn hoạt động theo ngành nghề đã đăng
Trang 6
ký, nhà máy vẫn là Chi nhánh của Công ty Cổ phần B, do đó phía bị đơn Công
ty Cổ phần B cho rằng Ban giám đốc mới không được bàn giao công nợ và cho
rằng Nhà máy Chế biến thức ăn thủy sản VT là chi nhánh hạch toán độc lập với
Công ty Cổ phần B và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật là không có cơ sở.
Ngoài ra cấp sơ thẩm đã xem xét thời gian tính li từ ngày thư xác nhận nợ
23/5/2016 và lải suất theo yêu cầu của nguyên đơn 1% là có sơ sở đúng pháp
luật.
Từ những căn cứ trên không có cơ sở chấp nhận phát biểu của Luật sư đề
nghị hủy bản án sơ thẩm và kháng cáo của Công ty Cổ phần B, cần giữ nguyên
bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự,
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần B.
Giữ nguyên bản án số 05/2018/KDTM-ST ngày 30/01/2018 của Tòa án
nhân dân thành phố L, tỉnh AG.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty A.
Buộc Công ty Cổ phần B có nghĩa vụ trả cho Công ty A số tiền là
1.048.151.185 đồng (Một tỷ không trăm bốn mươn tám triệu, một trăm năm
mươi mốt nghìn một trăm tám mưới lăm đồng). Trong đó bao gồm tiền mua
nguyên liệu còn nợ là 873.459.321 đồng (Tám trăm bảy mươi ba triệu, bốn trăm
năm mươi chính nghìn, ba trăm hai mươi mốt đồng) và tiền lãi chậm thanh toán
là 174.691.864 đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu, sáu trăm chín mươi mốt
nghìn tám trăm sáu mươi bốn đồng).
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải
chịu án phí. Công ty A được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.280.000
đồng (Ba mươi sáu triệu, hai trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số
0010570 ngày 22/12/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.
Công ty Cổ phần B phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ
thẩm với số tiền là 43.444.500 đồng (Bốn mưới ba triệu bốn trăm bốn mươi bốn
nghìn năm trăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền,
Trang 7
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Án phí phúc thẩm: Công ty Cổ phần B phải chịu 2.000.000đ án phí phúc
thẩm, được khấu trừ 2.000.000đ theo biên lai thu số 0005002 ngày 13 tháng 02 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh AG, Công ty Cổ phần B được nhận lại số tiền 1.000.000 đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND AG; - Phòng KTNV và THA; - TAND huyện; - THA huyện; - Văn Phòng; - Tòa Kinh tế; - Đương sự; - Lưu hồ sơ . | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀTM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Hữu Giàu Trang 8 |