- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn C vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tô ̣i “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luâ ̣t Hình sự đối với bị cáo Phan Văn C, xử ph…
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2018/HSST Ngày: 15/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trừ;
Các Hội thẩm nhân dân:
. Ông Hồ Quang Thành;
. Bà Phạm Thị Loan.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Vũ Tuyết Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Sử - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2018/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Phan Văn C sinh năm 1988, tại V, Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiê ̣p : làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn D và bà Hà Thị Đ; có vợ là Lê Thị Cẩm T (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án: không, tiền sự: không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Trân Nhật Thảo – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bị hại: Anh Lê Vũ Hoàng H (chết) sinh năm 1998; trú tại thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Vũ Hữu T sinh năm 1955 và bà Lê Thị Mẫu Đ sinh năm 1964; cùng trú tại thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Ông T, bà Đ có mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị Trần Thị H sinh năm 1981; trú tại tổ D, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn R sinh năm 1959; trú tại tổ P, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Ngọc T sinh năm 1975; trú tại tổ S, thị trấn V huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 30 tháng 5 năm 2017, Phan Văn C không có giấy phép lái xe điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79L9-3759 theo hướng từ đường N, xã V đến cầu vượt thuộc tổ S, thị trấn V. Khi đi đến đường L thuộc tổ dân phố số S, thị trấn V, huyện V do thấy đường vắng không có người và phương tiện tham gia giao thông nên C điều khiển xe mô tô chạy giữa đường, không quan sát phía trước, không làm chủ tốc độ nên để xe mô tô 79L9-3759 chạy lấn sang phần đường bên trái của hướng đi tông vào xe mô tô biển số 79R1-1210 do Lê Vũ Hoàng H điều khiển theo hướng ngược chiều gây tai nạn giao thông. Hậu quả: 02 xe mô tô 79L9-3759 và 79R1-1210 bị hư hỏng; Lê Vũ Hoàng H bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện R, thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 02 tháng 7 năm 2017 thì tử vong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 325/GĐHS-TTPY ngày 14 tháng 8 năm 2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận nguyên nhân tử vong của Lê Vũ Hoàng H do đa chấn thương.
Hiện trường vụ tai nạn xảy ra trên đoạn đường thẳng tại đường L, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
Mặt đường trải nhựa bằng phẳng rộng 9,40m, vỉa hè bên phải và vỉa hè bên trái mỗi bên đều rộng 3m. Điểm mốc của vụ tai nạn là trụ điện số 476-E33/106-1 nằm trên vỉa hè trái và cách mép đường trái 1,65m. Hướng trái phải được xác định theo hướng Cầu vượt đường T.
Xe mô tô 79R1-1210 sau tai nạn nằm ngả nghiêng bên trái và trên mặt đường. Đầu xe quay hướng đường T, đuôi xe quay hướng cầu vượt. Trục bánh trước cách mép đường trái 5,70m, trục bánh sau cách mép đường trái 5,48m và cách trụ điện số 476-E33/106-1 là 10,15m.
Xe mô tô 79L9-3759 sau tai nạn nằm ngả nghiêng bên phải trên mặt đường và trước đầu xe mô tô 79R1-1210, đầu xe quay hướng mép đường phải, đuôi xe quay hướng mép đường trái. Trục bánh trước cách mép đường trái 6,30m và cách trục bánh trước xe mô tô 79R1-1210 là 0,80m, trục bánh sau cách mép đường trái 5,20m và cách trục bánh sau xe mô tô 79R1-1210 là 2,40m.
Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số 08/CT-KSĐT ngày 02 tháng 01 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa để xét xử bị cáo Phan Văn C về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Văn C theo tội danh như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh về nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh, về điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo là hộ nghèo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Vũ Hữu T và bà Lê Thị Mẫu Đ có ý kiến: Ông T, bà Đ đã nhận 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) tiền chi phí mai táng, sửa chữa xe mô tô biển kiểm soát 79R1-1210 và các chi phí khác từ bị cáo, nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường hoặc còn có khiếu nại gì.
Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến đề nghị hỗ trợ cho người đại diện hợp pháp của bị hại là ông T, bà Đ 20.000.000 đồng, ông T, bà Đ cũng đồng ý nhận sự hỗ trợ của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông T và bà Đ đã nhận 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) tiền chi phí mai táng, sửa chữa xe mô tô biển kiểm soát 79R1-1210 và các chi phí khác từ bị cáo và không có yêu cầu bồi thường gì, nên đề nghị không xem xét. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến đề nghị hỗ trợ cho ông T, bà Đ 20.000.000 đồng, ông T, bà Đ cũng đồng ý nhận sự hỗ trợ của bị cáo nên đề nghị ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn C đa khaĩ nhâ ̣n hành vi của minh điều khiển xe mô tô gây tai nạn giao thông và hậu quả như
̀ như nội dung bản Cáo trạng số 08/CT-KSĐT ngày 02 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai người làm chứng; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 30/5/2017 và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Như vâ ̣y, đủ cơ s ở kết luận khoảng 13 giờ 20 phút ngày 30/5/2017, Phan Văn C không có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79L9 – 3759 đi trên đường L thuộc tổ S, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, đi không đúng phần đường, lấn sang phần đường bên trái của hướng đi đã tông vào xe mô tô biển kiểm soát 79R1-1210 do Lê Vũ Hoàng H điều khiển theo hướng ngược chiều gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Lê Vũ Hoàng H bị thương nặng và đến ngày 02/7/2017 thì tử vong.
Tại Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” thì:
1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định.
Nên hành vi điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường, tông vào xe mô tô biển kiểm soát 79R1-1210 do Lê Vũ Hoàng H điều khiển gây tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả Lê Vũ Hoàng H tử vong của bị cáo Phan Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm pha ̣m trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại đến tính mạng của anh Lê Vũ Hoàng H, gây bất ổn tình hình an toàn giao thông đường bộ ở địa phương. Bản thân bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng vẫn điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường; lại điều khiển xe không đúng làn đường, phần đường quy định, lấn sang phần đường trái của hướng đi là vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả như trên.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn bãi nại đối với bị cáo và tại phiên tòa bị cáo hỗ trợ cho gia đình bị hại 20.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung, đồng thời giúp bị cáo yên tâm cải tạo.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Vũ Hữu T và bà Lê Thị Mẫu Đ đã nhận 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) tiền chi phí mai táng, sửa chữa xe mô tô biển kiểm soát 79R1-1210 và các chi phí khác từ bị cáo. Tại phiên tòa, ông T, bà Đ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường hoặc còn có khiếu nại gì khác nên không xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến đề nghị hỗ trợ cho người đại diện hợp pháp của bị hại là ông T, bà Đ 20.000.000 đồng, ông T, bà Đ cũng đồng ý nhận sự hỗ trợ của bị cáo. Xét sự thỏa thuận của bị cáo với người đại diện hợp pháp của bị hại là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên ghi nhận.
Về án phi: Bị cáo Phan Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000
́ đồng, án phí dân sự sơ thẩm là 1.000.000 đồng, nhưng do bị cáo là Hộ nghèo năm 2018 theo Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo ngày 15 tháng 01 năm 2018 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa và có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí, nên bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tô ̣i “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luâ ̣t Hình sự đối với bị cáo Phan Văn C, xử phạt bị cáo Phan Văn C 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Về trách nhiê ̣m dân sự:
Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 591 của Bộ luật Dân sự,
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Phan Văn C với người đại diện hợp pháp của bị hại ông Vũ Hữu T, bà Lê Thị Mẫu Đ như sau: Bị cáo Phan Văn C phải trả cho ông Vũ Hữu T, bà Lê Thị Mẫu Đ số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Quy định: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Phan Văn C được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), án phí dân sự sơ thẩm là 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
- Quyền kháng cáo của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại là 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Vạn Ninh; - Công an huyện Vạn Ninh; - Chi cục THA dân sự huyện Vạn Ninh; - Bị cáo; - Người bào chữa cho bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Hồ sơ THA; - Lưu án văn; Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Trừ |